Giới thiệu địa chỉ sửa chữa máy bơm nước, sửa chữa điện nước, sửa chữa điện nước tại nhà, thông tắc chậu rửa bát và cung cấp mua bán bo dam, máy bộ đàm, máy bộ đàm kenwood chuyên nghiệp, uy tín, được nhiều bình chọn tin dùng tại Hà Nội

 Ho Chi Minh
Kiem dinh 1studylinkhoc tieng anh

Tìm kiếm

Liên kết website

Giáo dục thời đại
Giáo dục 24h
  • Điều chỉnh giờ học liên quan vụ sập cầu Long Kiển

    Ngày 20/01, trao đổi với Phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, cô Lê Thị Oanh, Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nhà Bè (thành phố Hồ Chí Minh) khẳng định, sẽ xem xét lại giờ vào học của học sinh trên địa bàn huyện nhằm hỗ trợ cho phụ huynh.

    Cô Oanh cảm thông với phụ huynh trên địa bàn huyện phải đưa đón học sinh với quãng đường xa hơn.

    Hiện trường nhịp cầu thông thuyền Long Kiển bị sập. (Ảnh: Đ.Q)

    Cầu Long Kiển nối giữa xã Nhơn Đức với xã Phước Kiển, một số học sinh ở ấp 2 xã Nhơn Đức gần với Trường Tiểu học Tạ Uyên và Trường Trung học cơ sở Nguyễn Văn Quỳ, các em chỉ cần đi qua cầu Long Kiển là đến nơi.  

    Vụ sập cầu xảy ra, các em học sinh sẽ đi đường vòng Nguyễn Văn Tạo, qua Nguyễn Hữu Thọ, sang Phạm Hữu Lầu, rồi chạy ngược lại nên sẽ rất mất thời gian.

    Trước mắt, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nhà Bè động viên phụ huynh, học sinh và cùng các giáo viên cố gắng đưa con em cũng như đến trường ở quãng đường xa hơn.

    Lãnh đạo thành phố và lãnh đạo huyện Nhà Bè đang tiến hành khắc phục sự cố vụ sập cầu.

    Đầu tuần tới, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nhà Bè sẽ lắng nghe ý kiến của phụ huynh học sinh cũng như các thầy cô tại những trường ở khu vực xảy ra vụ sập cầu Long Kiển để có những chỉ đạo nhằm hỗ trợ kịp thời.

    Những trường bị ảnh hưởng do cầu sập sẽ được điều tiết thời gian dạy và học để tạo điều kiện tốt nhất cho phụ huynh, học sinh cũng như các thầy cô giáo.

    Sơ đồ điều tiết phương tiện lưu thông tránh cầu Long Kiển bị sập. (Ảnh: Đ.Q)
    - Đường màu đỏ, hướng đi của phương tiện từ huyện Cần Giuộc (tỉnh Long An) về quận 7 (thành phố Hồ Chí Minh).

    - Đường màu xanh lá, hướng đi của phương tiện từ quận 7 về huyện Cần Giuộc. 

    - Dấu (X) vị trí cầu Long Kiển bị sập nhịp thông thuyền.  

    Lúc 22 giờ 40 phút ngày 19/01, một chiếc xe ben chở đá tải trọng khoảng 15 tấn lưu thông trên đường Lê Văn Lương, hướng từ quận 7 về huyện Cần Giuộc (tỉnh Long An).

    Khi đến ấp 1, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, xe qua cầu Long Kiển và khi chuẩn bị qua hết cầu thì bất ngờ cây cầu đổ sập 1 nhịp cầu tại khoang thông thuyền. Chiếc xe ben rơi xuống sông.

    Khi cầu sập người đàn ông điều khiển xe máy đã kịp bám vào lan can cầu, thoát nạn. Riêng tài xế và phụ xe ben bị rớt xuống sông nhưng cũng may mắn bơi được vào bờ.

    Vụ sập cầu Long Kiển khiến giàn thép tại khoang thông thuyền bị sập hoàn toàn. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, gồm: hai ống nước trên cầu, hệ thống cáp điện lực và viễn thông đều bị đứt.

    Cầu Long Kiển có chiều dài 105,6 m, rộng 3,3 m nối 2 xã Phước Kiển và Nhơn Đức của huyện Nhà Bè. Kết cấu cầu bằng sắt lắp ghép với nhau và được xây dựng trước năm 1975, tải trọng cho phép dưới 3,5 tấn.

    Dự kiến quý II năm 2018, cầu Long Kiển mới sẽ được thi công thay cho cầu bằng thép này. Thời gian thi công 18 tháng.

    Cầu có quy mô: dài 318m, bề rộng 15m, khổ thông thuyền 5m x 30m, với tổng mức đầu tư: 557 tỷ đồng.

    Ngay trong đêm 19/1, ông Bùi Xuân Cường, Giám đốc Sở Giao thông vận tải đã có mặt tại hiện trường cầu Long Kiển bị sập. Ông Cường thông tin, sẽ khôi phục nhịp cầu bị sập để đảm bảo sử dụng cho tối thiểu trên 2 năm nữa.

    Sáng 20/01, Sở Giao thông vận tải đã phát đi thông báo liên quan đến việc điều tiết giao thông quanh khu vực cầu Long Kiển gặp sự cố.

    Theo đó, kể từ ngày 19/01, tổ chức giao thông trên đường Lê Văn Lương đoạn qua cầu Long Kiểng, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè được điều chỉnh như sau:

    + Hướng từ tỉnh Long An đi quận 7:

    - Lộ trình lưu thông các loại phương tiện: đường Lê Văn Lương - đường Nguyễn Bình - đường Nguyễn Hữu Thọ - đường Phạm Hữu Lầu - đường Lê Văn Lương.

    - Lộ trình lưu thông xe 02 bánh: đường Lê Văn Lương - đường Nguyễn Bình -đường Đào Sư Tích - đường Lê Văn Lương.

    + Hướng từ Quận 7 đi tỉnh Long An:   

    - Lộ trình lưu thông các loại phương tiện: đường Lê Văn Lương - đường Phạm Hữu Lầu - đường Nguyễn Hữu Thọ - đường Nguyễn Bình - đường Lê Văn Lương.

    - Lộ trình lưu thông xe 02 bánh: đường Lê Văn Lương - đường Đào Sư Tích - đường Nguyễn Bình - đường Lê Văn Lương. 



  • Thứ Sáu tốt ngày, tháng Tết đẹp để công bố dự thảo chương trình môn học?

    LTS: Thầy giáo Thanh An gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài viết mới trao đổi góc nhìn của thầy về việc Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến dư luận xã hội về dự thảo các chương trình môn học mới.

    Tác giả cho rằng, việc chọn chiều muộn cuối tuần làm việc để công bố, chọn tháng Tết để xin ý kiến đóng góp đã hạn chế rất nhiều cho những ai quan tâm đến giáo dục, và tính hiệu quả sẽ phần nào bị ảnh hưởng.

    Xin mời quý bạn đọc theo dõi bài viết.

    Sau nhiều lần trì hoãn, chiều muộn 19/1/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo chương trình các môn học mới để lấy ý kiến đóng góp của công luận. 

    Trong 2 tháng kể từ đây, những người quan tâm đến nền giáo dục nước nhà sẽ có những đóng góp thiết thực cho chương trình môn học mới. 

    Thứ Sáu “tốt ngày”?

    Có một điều khá thú vị mà chúng tôi nhận thấy về thời điểm Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn để công bố chương trình giáo dục phổ thông mới.

    Ngày 28/7/2017 chính thức thông qua chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và ngày 19/1/2018 công bố dự thảo chương trình các môn học mới đều là thứ Sáu, và thông tin được công bố vào chiều muộn. 

    Toàn cảnh họp báo công bố dự thảo các chương trình môn học giáo dục phổ thông mới chiều 19/1/2018. Ảnh: Quý Trung / TTXVN.

    Không biết có phải là sự ngẫu nhiên hay là sự lựa chọn “ngày đẹp” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban phát triển chương trình giáo dục phổ thông mới? 

    Tại sao không phải là ngày đầu tuần, giữa tuần mà lại là một buổi chiều làm việc cuối cùng của tuần đối với tất cả các cơ quan nhà nước để công bố chương trình?

    Bởi sau thời điểm công bố, 2 ngày tiếp theo là cuối tuần là thời điểm các cơ quan, công sở đều nghỉ!

    Vẫn biết rằng thời đại bây giờ là thời đại công nghệ số, Intenet đã được phủ sóng khắp nơi. Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh rẻ tiền, người ta cũng có thể đọc báo bất cứ lúc nào, ở đâu.

    Có điều khi tâm lý xã hội chỉ muốn nghỉ ngơi sau 1 tuần làm việc căng thẳng và tiếp nhận thông tin dồn dập, 2 ngày cuối tuần thường là thời điểm mọi người muốn nghỉ ngơi, thư gian đầu óc.

    Không phải những thông tin quan trọng mà người ta gọi là "cháy nhà, chết người" thì chẳng mấy ai quan tâm.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn chiều muộn của ngày thứ Sáu để họp báo công bố chương trình khiến chúng tôi có chút băn khoăn.

    Danh sách 19 môn học trong chương trình mới, còn thiếu môn Ngoại ngữ.

    Thứ nhất là tất cả các cơ quan nhà nước sẽ nghỉ vào ngày thứ Bảy, Chủ nhật, nếu không có sự kiện nào đặc biệt hoặc gây chú ý lắm, thông thường người dân nghỉ ngơi, vui chơi và ít đọc báo hơn ngày thường.

    2 ngày nghỉ cuối tuần trôi qua, khi đầu tuần làm việc mới bắt đầu, thông tin công bố các chương trình môn học sẽ không còn mới nữa, và biết đâu lại chìm nghỉm trong biển thông tin nếu có một sự kiện truyền thông nào đó?

    Lựa chọn chiều muộn ngày thứ Sáu để công bố, vô tình hình trung một thông tin giáo dục quan trọng đến nhiều thế hệ người Việt Nam trong tương lai lại có rất nhiều người không để ý đến, vì bước vào 2 ngày nghỉ.

    Thứ hai là phần lớn các cơ quan báo chí địa phương của hơn 60 tỉnh thành không phát hành trong ngày thứ Bảy và Chủ nhật. Các trang online của báo địa phương cũng chủ yếu đăng lại các tờ báo lớn. 

    Trong khi báo địa phương chủ yếu là bán cho các đơn vị nhà nước, các đơn vị trường học đang tiêu thụ một lượng lớn của các tờ báo tỉnh. Chuyên trang hay chuyên mục giáo dục không được phản ánh nhiều trong những ngày này.

    Thứ ba là nhiều công, viên chức nhà nước, các bậc phụ huynh họ thường mong đến những ngày nghỉ cuối tuần là có đi đâu đó nghỉ ngơi hoặc về thăm cha mẹ, bạn bè, người thân… báo chí chắc chắn sẽ không cập nhật được nhiều bằng các ngày khác.

    Thời gian lấy ý kiến quá ngắn và “độc”

    Bây giờ đã là cuối tháng 1/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến tháng Tư sẽ thông qua chương trình môn học chính thức. Từ đây đến đó chỉ có hơn 2 tháng trời.

    Công bố chương trình môn học mới, “ú tim” đến bao giờ?

    Khoảng thời gian quả là quá ngắn và gấp gáp để lấy ý kiến công luận. 

    Bởi trong 20 môn học và hoạt động đã được Bộ công bố thì có những môn hàng trăm trang giấy với rất nhiều đề mục khác nhau.

    Nên người muốn góp ý phải tường tận vấn đề mới có thể đóng góp ý kiến một cách thấu đáo.

    Nhưng thời gian như vậy thì liệu Bộ sẽ nhận được bao nhiêu lời góp ý có trách nhiệm và chất lượng từ dư luận?

    Hơn nữa, thời điểm Bộ công bố dự thảo chương trình của 20 môn học / hoạt động giáo dục, thì tháng Chạp năm Đinh Dậu đã qua được mấy ngày.

    Tết Nguyên đán Mậu Tuất đang đến gần với mọi người hơn. 

    Thời điểm này nhiều người ở xa đã đang chộn rộn lo thu xếp để về với quê hương.

    Những công chức, viên chức cũng đang phải lo toan, chuẩn bị những món quà để tặng người này, người kia cho đúng với phong tục truyền thống của dân tộc. 

    Rồi Tết xong ra Giêng xã hội lại bước vào “tháng ăn chơi”… 

    Chỉ nghĩ đến đây thôi, chúng tôi cũng mường tượng là thời gian góp ý cho dự thảo chương trình môn học đã không còn nữa và cũng sẽ không nhiều người góp ý.

    Không hiểu đây có phải lại là một sự vô tình trùng hợp ngẫu nhiên, hay Bộ có chủ ý lựa chọn tháng Tết để xin ý kiến xã hội về chương trình các môn học?Bộ Giáo dục và Đào tạo có thực tâm muốn nghe đóng góp, Bộ sẽ tiếp thu đến đâu?

    Là một người thường xuyên theo dõi các thông tin giáo dục, vì thế điều chúng tôi nhận thấy tường tận nhất là:

    Kể từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể để xin ý kiến xã hội ngày 12/4/2017, ngay cả khi công bố chương trình đã thông qua chính thức 28/7/2017, đã có nhiều nhà khoa học, nhiều nhà giáo tâm huyết nêu ý kiến phản biện, nhưng gần như mọi thứ vẫn không có nhiều thay đổi so với dự thảo ban đầu.

    Nhìn sách giáo khoa hiện hành, mơ cho con em được học chương trình cũ

    Chúng tôi lấy ví dụ, chỉ riêng trên trang Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam trong những tháng qua đã có hàng mấy chục bài báo phản ánh về những bất cập của môn học “tích hợp”;

    2 môn Lịch sử và Địa lí bị gò vào 1 sách "Lịch sửa và Địa lý", tích hợp 3 môn Vật lý, Hóa học và Sinh học thành 1 sách "Khoa học tự nhiên" ở cấp trung học cơ sở với rất nhiều câu hỏi cụ thể đặt ra về căn cứ khoa học, phương án triển khai và các hệ lụy phát sinh.

    Nhưng hình như Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng quý thầy biên soạn chưa bao giờ tiếp thu, chưa bao giờ giải thích và có lẽ cũng chẳng bao giờ đoái hoài đến những bài phản biện này. 

    Theo chúng tôi, phải chăng do những bài viết đó không phải là những “những nhà khoa học, những giáo viên cốt cán” đóng góp như dự kiến của một số thầy ở Bộ và Ban biên soạn chương trình mới mong muốn, nên những bài phản biện đó cũng chỉ để bạn đọc thưởng thức và cảm thông với nhau mà thôi!

    Vì vậy, lần công bố xin ý kiến dư luận về dự thảo các chương trình môn học mới này, chúng tôi nghĩ rằng không biết Bộ Giáo dục và Đào tạo và quý thầy làm chương trình môn học có thực tâm đón nhận những chia sẻ, góp ý từ dư luận hay không? 

    Hơn nữa, nếu dư luận góp ý thì không biết các thầy có cho là những ý kiến đó sẽ là những ý kiến “thô thiển”, “non nớt” là “kẻ đốt đền” như trường hợp anh Nguyễn Sóng Hiền đã nêu ý kiến là bỏ tác phẩm Chí Phèo trong chương trình Ngữ văn lớp 11 cách đây mấy tháng?

    Chúng tôi vẫn hy vọng và luôn hy vọng Bộ Giáo dục và Đào tạo, quý thầy làm chương trình môn học sẽ thực tâm muốn nghe góp ý để hoàn thiện chương trình. 

    Nhưng đóng góp chất lượng sẽ bị hạn chế nhiều khi Bộ chọn tháng Tết xin ý kiến, chọn chiều muộn thứ Sáu để họp báo công bố dự thảo.

    Chỉ có lắng nghe, thấu hiểu những thầy cô, học sinh đang trực tiếp giảng dạy, học tập thì những bộ sách giáo khoa tới đây mới có thể gần hơn với thực tế. 

    Và quan trọng hơn, những thầy cô giáo chúng tôi cũng như những em học sinh không muốn làm “thí nghiệm” cho sách giáo khoa mới nhiều lần….!



  • Thành phố Hồ Chí Minh chưa bao giờ có lệnh cấm học sinh chuyển trường

    Trong một học kỳ, nữ sinh 3 lần bị tai nạn

    Ngày 18/01, phản ánh của độc giả đến Phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, anh Âu Dương Tân (sinh năm 1975) là phụ huynh của cháu Âu Trần Thu Thủy (*) (sinh năm 2002), học sinh lớp 10C Trường Trung học phổ thông Năng khiếu Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh chưa thể chuyển trường được cho con.

    Anh Tân kể, sau đợt sơ kết học kỳ 1, anh có nguyện vọng chuyển cho con từ Trường Trung học phổ thông Năng khiếu Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh (quận 1) về Trường Trung học phổ thông Nguyễn Du (quận 8) để gần nhà.

    Mặc dù được Hiệu trưởng trường nơi chuyển đến có ý kiến tiếp nhận nhưng học sinh vẫn chưa thể chuyển đi nếu không có ý kiến của trường đang học. (Ảnh: Đan Quỳnh)

    Năm cuối bậc Trung học cơ sở, anh Tân thấy con gái đam mê một số bộ môn thể thao nên thể theo nguyện vọng và cho con ghi danh vào trường Trung học phổ thông Năng khiếu Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh.

    Chỉ trong học kỳ 1, cháu Thủy tự đi xe đạp suốt quãng đường từ quận 8 sang quận 1 để học đã bị tai nạn đến 3 lần. Anh Tân cùng vợ nóng lòng nên quyết định xin cho con về gần nhà để học.

    Anh Tân đã bày tỏ nguyện vọng với Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Nguyễn Du và được tiếp nhận. Tuy nhiên, khi liên hệ lại với Trường Trung học phổ thông Năng khiếu Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh để làm các thủ tục chuyển đi thì nơi đây không chịu ký quyết định cho con gái chuyển trường.

    Anh Tân liên hệ với Ban Giám hiệu của trường con đang học và quan sát thấy tờ giấy đề nghị trả cháu Thủy về lại địa phương đang chờ trình ký. Hoảng hốt, anh tìm mọi cách liên lạc với Ban Giám hiệu nhưng nhận được sự thờ ơ của nhà trường.

    Hiện tại, cháu Thủy vẫn đang học tại Trường Trung học phổ thông Năng khiếu Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh ở những ngày đầu của học kỳ 2.

    Chưa có quy định cấm học sinh chuyển trường

    Sáng cùng ngày, Phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đã liên lạc với cô Nguyễn Thị Mỹ Hậu, Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Năng khiếu Thể dục thể thao liên quan đến vụ việc. Cô Hậu giải thích, cô đang bận việc gia đình và qua tuần sẽ xem xét trường hợp của em Âu Trần Thu Thủy.

    Anh Tân tâm sự, suốt quá trình học kỳ 1 ở Trường Trung học phổ thông Năng khiếu Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, anh rất yên tâm với cách dạy của giáo viên tại trường. Việc học của cháu càng cải thiện rõ rệt.

    Đơn xin rút học bạ của phụ huynh cháu Âu Trần Thu Thủy để xin chuyển về trường mới. (Ảnh: Đan Quỳnh)

    Thế nhưng, do nhà xa trường nên anh đành lòng cho cháu về trường gần nhà để an toàn và giảm thiểu khả năng xảy ra tai nạn giao thông.

    Trường hợp chuyển trường như anh Tân không phải là hiếm trong thời gian qua. Gần đây, nhiều phụ huynh truyền miệng nhau liên quan đến việc chấn chỉnh tình trạng học sinh lớp 10 xin chuyển trường giữa hoặc cuối kỳ học như cháu Thủy.

    Và cũng có thông tin cho rằng, nếu học sinh không thay đổi chỗ ở hoặc cha mẹ không thay đổi nơi làm việc và một số trường hợp đặc biệt khác thì không được chuyển trường.

    Để làm rõ vấn đề này, ngày 17/01, Phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đã liên lạc với ông Đỗ Minh Hoàng, Chánh văn phòng Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hoàng khẳng định, đến thời điểm này, Sở chưa có văn bản nào quy định như trên.

    Trong thời gian tới, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tập trung những ý kiến của các cá nhân rồi soạn dự thảo trình lên Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để phê duyệt kế hoạch tuyển sinh đầu cấp năm 2018.

    Việc phụ huynh và học sinh có nhu cầu chuyển trường sau một học kỳ hoặc hết năm học là có thật. Như trường hợp của cháu Thủy, con gái anh Tân cũng đáng để suy nghĩ.   

    (* Tên nhân vật trong bài viết đã được thay đổi)



  • Bình Phước vẫn chưa thể thu hồi phí đào tạo cấp sai cho học sinh cử tuyển

    Ngày 19/01, nguồn tin từ Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước xác nhận, cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh vẫn đang tiến hành thu hồi số tiền hơn 741 triệu đồng liên quan đến việc “Xử lý yêu cầu bồi hoàn kinh phí đào tạo đối với học sinh diện cử tuyển đi học giai đoạn 2006 – 2015 tự ý nghỉ học, kỷ luật buộc thôi học”.

    Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước và Quyết định xử lý yêu cầu bồi hoàn kinh phí đào tạo. (Ảnh: Đan Quỳnh)

    Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nội vụ, Kho bạc Nhà nước tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã: Bù Đăng, Lộc Ninh, Bù Gia Mập, Đồng Phú, Bù Đốp, Phước Long thực hiện bồi hoàn kinh phí đào tạo cử tuyển đối với các học sinh.

    Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã trên phải khẩn trương triển khai quyết định thu hồi đến các học sinh thuộc đối tượng bồi hoàn kinh phí đào tạo cử tuyển có hộ khẩu thường trú tại các địa phương.

    Các địa phương phải nghiêm túc phối hợp cùng các Sở, ban ngành trong việc cung cấp đầy đủ thông tin, địa chỉ liên hệ để việc thực hiện bồi hoàn kinh phí đào tạo cử tuyển đối với học sinh đạt hiệu quả.

    Quyết định về việc “Xử lý yêu cầu bồi hoàn kinh phí đào tạo đối với học sinh diện cử tuyển đi học giai đoạn 2006 – 2015 tự ý nghỉ học, kỷ luật buộc thôi học” do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước Nguyễn Văn Trăm ký đã yêu cầu thời gian bồi hoàn kinh phí và báo cáo kết quả thực hiện về Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 30/12/2017.

    Danh sách các học sinh thuộc đối tượng không đạt yêu cầu, bỏ học, không nhập học. (Ảnh: Đan Quỳnh)

    Danh sách đính kèm quyết định thể hiện số học sinh được cử đi học cử tuyển Cao đẳng, Đại học đã tự ý bỏ học không lý do chính đáng và bị kỷ luận buộc thôi học là 32 học sinh. Cụ thể, 28 học sinh tự ý nghỉ học và có 4 học sinh bị kỷ luật buộc thôi học.

    Trong số 32 học sinh, 26 học sinh với số tiền hơn 741 triệu đồng và 6 học sinh chưa nhận kinh phí đào tạo. 



  • Một nhà khoa học Việt Nam đoạt Giải thưởng khoa học của Trường Tôn Đức Thắng

    Ngày 19/1, Trường Đại học Tôn Đức Thắng đã công bố, trao Giải thưởng khoa học của Đại học Tôn Đức Thắng.

    Năm 2017 là năm đầu tiên, Trường Đại học Tôn Đức Thắng tổ chức xét tặng giải thưởng này cho các nhà khoa học tiêu biểu.

    Được khởi xướng đầu tiên từ năm 2016, giải thưởng này có mục tiêu công nhận, tôn vinh các nhà khoa học trên thế giới có các thành tựu, công trình nghiên cứu xuất sắc, đã và đang đóng góp tích cực cho sự phát triển của khoa học – công nghệ của nhân loại, cũng như hoạt động thiện nguyện phụng sự con người, xã hội, trên toàn thế giới.

    Đây còn là một nỗ lực, để nhằm quảng bá hình ảnh của Việt Nam và Trường Đại học Tôn Đức Thắng trên trường khoa học quốc tế.

    Giáo sư Lê Vinh Danh - Hiệu trưởng Trường Tôn Đức Thắng trao giải thưởng Thành tựu trọn đời (ảnh: P.L)

    Phát động từ ngày 5/6/2017, đến ngày 1/9/2017, Giải thưởng khoa học Tôn Đức Thắng đã nhận được 62 hồ sơ từ các ứng viên, là các nhà khoa học đến từ Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Canada, Pháp, Pakistan, Ý, Nga, Bỉ, Israel, Hoa Kỳ, Nigeria, Indonesia, Nhật, Đài Loan, Estonia, Malaysia, Hồng Kong và cuối cùng là nước chủ nhà Việt Nam.

    Hội đồng thẩm định của giải thưởng này bao gồm 5 thành viên, là các nhà khoa học nổi tiếng trong và ngoài nước, đứng đầu là Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn – Viện nghiên cứu y khoa Garvan và Đại học New South Wales của Úc.

    Các thành viên của Hội đồng thẩm định này còn có thêm 2 nhà khoa học của Việt Nam,1 người đến từ Đức và người còn lại đến từ Úc.

    Hội đồng đã làm việc, xem xét và đề xuất trao giải thưởng này cho 4 nhà khoa học khác nhau, trong đó có Phó Giáo sư Nguyễn Thời Trung – Viện trưởng Viện khoa học tính toán, Trường Đại học Tôn Đức Thắng.

    3 nhà khoa học còn lại được trao giải thưởng này đến từ Canada, Hồng Kông và Malaysia.

    Đoạt được giải thưởng khoa học này, các nhà khoa học sẽ được trao từ 3.000 – 5.000 USD/người, tùy theo loại giải thưởng mà nhà khoa học đoạt được, như: giải Thành tựu trọn đời, giải Ngôi sao đang lên, giải Phụ nữ trong nghiên cứu khoa học.

    Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn – Chủ tịch Hội đồng thẩm định giải thích: Giải thưởng Thành tựu trọn đời vinh danh các nhà khoa học có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của khoa học công nghệ ở mức độ cao nhất.

    Giải thưởng Ngôi sao đang lên công nhận các nhà khoa học trẻ (dưới 40 tuổi) có các thành tích vượt bậc trong nghiên cứu, Giải thưởng Phụ nữ trong nghiên cứu khoa học đề cao các nhà khoa học nữ, những người có đóng góp quan trọng, xứng đáng trở thành hình mẫu cho các đồng nghiệp khác.

    Phó Giáo sư Nguyễn Thời Trung (sinh năm 1976) – Viện trưởng Viện khoa học tính toán, Trường Đại học Tôn Đức Thắng.

    Ông từng tốt nghiệp tại Đại học Bách Khoa thành phố, Đại học Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh, Thạc sĩ Khoa học máy tính, Tiến sĩ cơ học của Đại học Quốc gia Singapore.

    Là chuyên gia về cơ học tính toán, Phó Giáo sư Nguyễn Thời Trung đã có nhiều đóng góp quan trọng, cách tân trong chuyên ngành ở đẳng cấp quốc tế. Những đóng góp về phân tích cấu trúc, tối ưu hóa và tính toán thông minh (intelligent computation) đã gây ảnh hưởng trong chuyên ngành.

    Cho tới nay, Phó Giáo sư Nguyễn Thời Trung đã công bố 100 công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san nghiên cứu khoa học có uy tín cao, được liệt kê trong Cơ sở dữ liệu ISI của Mỹ.

    Theo cơ sở dữ liệu Scopus của Hà Lan, Phó Giáo sư Nguyễn Thời Trung đã có hơn 4.100 trích dẫn khoa học, với chỉ sô H là 35 (tương đương 59 trong Vật lý), thành tựu xuất sắc của một chuyên gia làm nghiên cứu trong điều kiện Việt Nam, nhưng có thể sánh với bất cứ chuyên gia nào trên thế giới.



  • Sẽ thay đổi hình thức thi quốc gia vào năm 2021

    Tháng 7/2017, Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thông qua chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Căn cứ chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Ban Phát triển các chương trình môn học đã xây dựng dự thảo chương trình môn học ở các cấp học.

    Tại cuộc họp báo thông tin về dự thảo nội dung các chương trình môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông mới, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết - Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông mới thông tin khái quát về chương trình. 

    Theo đó, chương trình giáo dục phổ thông mới có 20 môn/hoạt động giáo dục.

    Trong đó, có những môn học bắt buộc xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12 như tiếng Việt/ngữ văn, Toán, Giáo dục công dân, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp....

    Ông Thuyết thông tin, chương trình giáo dục phổ thông mới có 4 đặc điểm. Đầu tiên, các chương trình môn học có nội dung gắn với mỗi cấp học và những yêu cầu cần đạt cụ thể (mức độ biểu hiện cụ thể của năng lực cần hướng tới).

    Chương trình tập trung phát triển năng lực học sinh; trong đó năng lực là sự kết hợp tố chất, phân hóa phát triển kỹ năng của học sinh. Ngay từ lớp 1 trên cơ sở thể lực học sinh được sắp xếp các học phần khác nhau (điền kinh, bơi lội, cầu lông...).

    Chương trình mới thực hiện tích hợp các môn và liên môn. Một số môn học tích hợp mới như: lịch sử và địa lý (cấp Trung học cơ sở), khoa học (cấp tiểu học), khoa học tự nhiên (trung học cơ sở), giáo dục kinh tế và pháp luật;

    Một số môn học/hoạt động giáo dục lần đầu tiên được đưa vào chương trình dưới hình thức bắt buộc là hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, tin học; hay môn học tự chọn ở cấp trung học phổ thông như môn nghệ thuật.

    Đặc biệt, hoạt động giáo dục bắt buộc xuyên suốt tất cả 3 cấp học là Hoạt động trải nghiệm.

    Từ năm 2020 trở đi – khi chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai ở cấp trung học phổ thông, sẽ có những thay đổi về cách đánh giá, thi cử (Ảnh: Thùy Linh)

    Tại cuộc họp báo, khi phóng viên hỏi về định hướng đổi mới đánh giá, thi cử để phù hợp với nội dung đổi mới chương trình, ông Thuyết cho hay:

    "Trước mắt, từ nay đến năm 2020, hình thức kỳ thi trung học phổ thông quốc gia vẫn được giữ ổn định.

    Từ năm 2020 trở đi – khi chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai ở cấp trung học phổ thông, sẽ có những thay đổi về cách đánh giá, thi cử, tuy nhiên "thay đổi thế nào thì không hề đơn giản"".

    Ông cho biết thêm, hiện nay, Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã được giao để nghiên cứu về đổi mới hình thức đánh giá, thi cử, và sẽ có báo cáo đánh giá gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thời gian sớm nhất.



  • Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết: Soạn thảo chương trình có quyền viết sách giáo khoa!

    Theo Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết – Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông mới, chương trình môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình phổ thông mới sẽ lấy ý kiến nhân dân, các nhà khoa học trong 2 tháng sau đó, đưa các chương trình môn học ra thẩm định, các chương trình sẽ có hội đồng riêng thẩm định.

    Hội đồng quốc gia họp lại lần cuối rồi sẽ lựa chọn đơn vị làm sách để đưa chương trình vào thực tế theo lộ trình. .

    Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết cho hay: “Người soạn thảo chương trình sẽ là người nắm rất chắc chương trình nên việc viết sách giáo khoa sẽ có lợi”. (Ảnh minh họa trên giaoduc.net.vn)

    Lúc này, nhiều người băn khoăn rằng, theo chủ trương sẽ có một chương trình, nhiều sách giáo khoa. Trước đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho biết các sở giáo dục không được tham gia viết sách giáo khoa.

    Vậy thành viên ban soạn thảo chương trình có được quyền viết sách giáo khoa hay không?

    Trả lời câu hỏi này, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết cho hay: “Ban soạn thảo chương trình hoàn toàn có quyền viết sách giáo khoa. Bởi lẽ, người soạn thảo chương trình sẽ là người nắm rất chắc chương trình nên việc viết sách giáo khoa sẽ có lợi”.



  • Thầy Trương Quang Đệ và nỗi lo giáo dục

    LTS: Tiếp tục chia sẻ về những thách thức của giáo dục nước nhà trường thềm cuộc cách mạng 4.0, thầy Trương Quang Đệ đã chỉ ra những hạn chế và hướng đi của một nền giáo dục mới.

    Tòa soạn trân trọng giới thiệu đến độc giả.

    Không biết rồi đây giáo dục nước ta xoay sở thế nào trước thềm cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mà giới tin học gọi là cách mạng 4.0.

    Trong tương lai, cơ quan Bộ, các Sở, các trường sẽ hết sức gọn nhẹ và hiệu quả hơn các bộ máy cồng kềnh hiện nay.

    Thủ tướng Chính phủ khẳng định nước ta quyết tâm tham gia tích cực vào cuộc cách mạng này.

    Có một số ngành đã rục rịch chuẩn bị như: hàng không, công an, ngân hàng... nhưng giáo dục hầu như vẫn chưa thấy động tĩnh gì.

    Cách mạng 4.0, theo ước đoán của một số nhà kinh tế, sẽ phổ cập toàn cầu trong vòng mười hay mười lăm năm nữa.

    Khi đó, ta sẽ sống trong thời đại IOT-internet of things- internet vạn vật, công nghệ sinh học và công nghệ nano. Trên cơ sở nối mạng sự vật, các thuật toán giúp ta phân định kế hoạch công việc.

    Giáo dục phổ thông Việt Nam mãi đì đẹt vì chưa tháo được nút thắt tư duy

    Một vị giám đốc 4.0 của một xí nghiệp tương lai chỉ cần dùng smarphone (điện thoại thông minh) để điều khiển công việc thông qua các thuật toán.

    Ông ta biết sẽ làm gì trước mắt và lâu dài và nhất là không cần ban bệ tham mưu nào hết.

    Một vị bộ trưởng giáo dục 4.0 chỉ cần nhìn điện thoại là biết được một thầy giáo ở Phú Quốc đang gặp khó khăn gì hay một học sinh ở Pleiku đang mơ ước chuyện gì.

    Và xa hơn, là một học sinh Phần Lan đang có dự án gì về công tác xã hội. Vị bộ trưởng đó sẽ cho giải thể hết các Ban, Cục, Vụ, Viện không còn lý do tồn tại.

    Trong tương lai, cơ quan Bộ, các Sở, các trường sẽ hết sức gọn nhẹ và hiệu quả hơn các bộ máy cồng kềnh hiện nay.

    Bởi lẽ học sinh tương lai không cần đến trường theo một lớp nhất định. Mọi thứ có sẵn trên mạng.

    Ai muốn học gì cứ việc tra cứu và sẽ được cung cấp một chương trình tối ưu thích hợp cho bản thân người học đó.

    Tiếp đến là các bài giảng do những bậc thầy giỏi nhất thế giới ở: Ấn Độ, Mỹ, Nga...do mình chọn lấy. Thi cử cũng do mạng quyết định.

    Như vậy vai trò giáo viên sẽ thế nào? Ta cứ yên tâm, các thầy cô giáo bốn phương vẫn tồn tại nhưng cách thức sẽ khác đi.

    Người học được nối mạng với giáo viên và sẽ cần gặp để tham khảo ý kiến giáo viên trong các trường hợp cần thiết. Tình hình sẽ mhanh chóng diễn ra như vậy.

    Thế nên, ai cũng ngạc nhiên thấy Bộ ta (Bộ Giáo dục và Đào tạo) vẫn say sưa đầu tư hàng chục tỷ tiền để làm chương trình và sách giáo khoa và đào tạo Tiến sĩ.

    Giáo sư Ngô Bảo Châu: Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ làm thay đổi cấu trúc xã hội

    Về nguyên tắc, khi đã thực hiện cách mạng 4.0 thì không tốn một xu, ta vẫn có hàng ngàn sách giáo khoa, hàng vạn giáo trình, bài giảng với chất lượng cao nhất, đặc biệt thích hợp cho từng cá nhân.

    Ta cũng không tốn một xu mà vẫn tiếp cận được hàng ngàn, hàng vạn Giáo sư, Tiến sĩ khắp thế giới.

    Nếu không có chiến lược phát triển mới, một ngày nào đó Bộ Giáo dục sẽ không biết quản lý cái gì, quản lý ai?

    Điều đó làm ta liên tưởng đến lời tiên đoán tài tình của Marx và Enghel vào giữa thế kỉ 19 rằng:

    “Đến một giai đoạn phát triển cao, nhà nước sẽ tiêu vong, nhân dân tự quản lấy mọi công việc của mình”.

    Có điều, các ông tiên đoán cho một nền kinh tế nhà nước cấp cao, trong khi sự việc lại xảy ra trong một nền kinh tế thị trường tự do toàn cầu hóa.



  • Ngôi trường thứ 55 đạt chuẩn chất lượng giáo dục

    Ngày 19/1, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông đã tổ chức lễ đón nhận Quyết định và trao Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục do Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục (thuộc Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam) kiểm định và công nhận. 

    Tới dự buổi lễ long trọng này, có đại diện Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, lãnh đạo Bộ Thông tin và truyền thông. 

    Tại lễ công nhận, Tiến sĩ Vũ Văn San - Giám đốc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cho hay, sứ mạng của học viện đó là:

    “Sáng tạo và chuyển giao tri thức cho xã hội thông qua việc gắn kết các hoạt động giáo dục – đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu phát triển và chuyển giao khoa học công nghệ, tri thức mới trong lĩnh vực thông tin và truyền thông đáp ứng thực tiễn phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước”. 

    Ngày 19/1, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông đã tổ chức lễ đón nhận Quyết định và trao Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục do Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục (thuộc Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam) kiểm định và công nhận. (Ảnh: Thùy Linh)

    Tầm nhìn đến năm 2030: “Học viện trở thành tổ chức giáo dục – đào tạo, nghiên cứu có tính cạnh tranh, hội nhập quốc tế cao và nằm trong nhóm 20 trường đại học đứng đầu về chất lượng giáo dục – đào tạo và năng suất nghiên cứu khoa học của Việt Nam”. 

    Kể từ năm 2007, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông là trường đại học công lập đầu tiên được Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm thu học phí từ người học để đảm bảo cân bằng các chi phí thường xuyên, qua đó tạo cơ sở cho việc triển khai đào tạo đáp ứng theo nhu cầu xã hội.

    Và từ năm 2016, Học viện hoạt động theo cơ chế trường đại học công lập tự chủ toàn diện về tài chính cả về chi thường xuyên và chi đầu tư theo Nghị quyết 77/NQ-CP. 

    Vào tháng 01/2017, Học viện đã triển khai công tác tự đánh giá trong giai đoạn 2012-2017 theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 

    Sau khi hoàn thành báo cáo tự đánh giá, Học viện đã đăng ký đánh giá ngoài với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam). 

    Qua quá trình khảo sát chính thức phục vụ đánh giá ngoài từ ngày 22/9-30/9/2017, Đoàn chuyên gia đánh giá ngoài đã hoàn thành báo cáo đánh giá ngoài với kết quả: 51/61 tiêu chí đạt. 

    Với kết quả này, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông chính thức được Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam) công nhận đạt chuẩn chất lượng giáo dục. 

    Cũng tại lễ công bố, Phó giáo sư Nguyễn Phương Nga – Giám đốc Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam) cho hay:

    Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông là trường thứ 55 trên cả nước được trao giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục. 

    Đây là bước ngoặt đánh dấu quá trình phát triển của nhà trường để khẳng định chất lượng đào tạo với xã hội, với bạn bè quốc tế. 



  • Đang công bố dự thảo 20 môn học trong chương trình mới

    Căn cứ Chương trình tổng thể đã được thông qua hồi tháng 7/2017, Ban Phát triển các chương trình môn học đã xây dựng dự thảo chương trình môn học ở các cấp học với 20 môn, trong đó các môn sẽ có mộ số nội dung đổi mới.

    Dự thảo sẽ được lấy ý kiến công luận trong ​2 tháng, sau đó ban soạn thảo bổ sung, hoàn thiện trước khi công bố chính thức.

    Chương trình giáo dục phổ thông mới dự kiến sẽ được bắt đầu triển khai trên cả nước từ năm học 2019-2020 với lớp 1 của bậc tiểu học, từ năm học 2020-2021 với lớp 6 của bậc trung học cơ sở và từ năm học 2021-2022 với lớp 10 của bậc trung học phổ thông.

    Cụ thể, ở chương trình giáo dục phổ thông mới, thay vì các môn học như hiện hành, các môn học mới sẽ xuất hiện và được phân chia thành 2 loại: Môn học, hoạt động bắt buộc và môn học tự chọn.

    Ở cấp Tiểu học, các môn học bắt buộc gồm: Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục lối sống, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Lịch sử và Địa lý, Khoa học, Tin học và Công nghệ, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật.

    Môn học tự chọn là Tiếng dân tộc thiểu số và Ngoại ngữ 1 (đối với lớp 1 và 2).

    Ở cấp Trung học cơ sở, các môn học bắt buộc: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục công dân, Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lý, Tin học, Công nghệ, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật.

    Môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo đang công bố dự thảo chương trình môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông mới. (Ảnh: Thùy Linh)

    Ở cấp Trung học phổ thông, các môn học bắt buộc: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng và an ninh.

    Các môn học được lựa chọn: theo nhóm Khoa học Xã hội (gồm các môn Giáo dục kinh tế và pháp luật, Lịch sử, Địa lý), nhóm Khoa học Tự nhiên (gồm các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học), nhóm Công nghệ và Nghệ thuật (gồm Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật).

    Các môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2.

    Đặc biệt, hoạt động giáo dục bắt buộc xuyên suốt tất cả 3 cấp học là Hoạt động trải nghiệm.

    Những đổi mới trong chương trình các môn học 

    Chương trình môn Ngoại ngữ

    Chương trình môn Ngoại ngữ gồm: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, tiếng Hàn. 

    Trong đó, tiếng Anh là môn học trong chương trình giáo dục phổ thông bắt đầu dạy từ lớp 3 đến lớp 12. 

    Nội dung cốt lõi của môn học giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp thông qua rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và các kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp). 

    Các kỹ năng ngôn giao tiếp và kiến thức ngôn ngữ được xây dựng trên cơ sở các đơn vị năng lực giao tiếp cụ thể, trong các chủ đề và chủ điểm phù hợp với học sinh phổ thông nhằm giúp các em khi kết thúc cấp tiểu học đạt được năng lực giao tiếp bậc 1, khi kết thúc bậc trung học cơ sở đạt được bậc 2 và khi kết thúc cấp trung học cơ sở đạt bậc 3 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (ban hành theo Thông tư số 01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo).

    Môn Tiếng Việt - Ngữ văn

    Điểm khác biệt nhất so với các chương trình trước đây là chương trình Ngữ văn lần này được xây dựng xuất phát từ các phẩm chất và năng lực cần có của người học để lựa chọn nội dung dạy học. 

    Môn Toán

    Môn Toán là môn học bắt buộc và được phân chia theo hai giai đoạn. 

    Giai đoạn giáo dục cơ bản: giúp học sinh nắm được một cách có hệ thống các khái niệm, nguyên lý, quy tắc toán học cần thiết nhất cho tất cả mọi người, làm nền tảng cho việc học tập ở các trình độ học tập tiếp theo hoặc có thể sử dụng trong cuộc sống hằng ngày. 

    Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: giúp học sinh có cái nhìn tương đối tổng quát về Toán học, hiểu được vai trò và những ứng dụng của Toán học trong đời sống thực tế, những ngành nghề có liên quan đến toán học để học sinh có cơ sở định hướng nghề nghiệp sau này, cũng như có đủ năng lực tối thiểu để tự mình tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến toán học trong suốt cuộc đời.

    Môn Giáo dục công dân

    Nội dung chủ yếu của môn Giáo dục công dân là giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, pháp luật và kinh tế.

    Toàn cảnh nội dung tích hợp Lịch sử và Địa Lý trong chương trình mới

    Ở tiểu học và trung học cơ sở, nội dung môn học định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, quê hương, cộng đồng, nhằm hình thành cho học sinh thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập, sinh hoạt và ý thức tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật.

    Chương trình môn Tự nhiên và xã hội

    Môn học này sẽ tập trung vào 6 chủ đề là gia đình, trường học, cộng đồng địa phương, thực vật và động vật, con người và sức khỏe, Trái Đất và bầu trời. 

    So với chương trình hiện hành, chương trình Tự nhiên và xã hội mới tinh giản một số nội dung khó hoặc sẽ được học ở ngay các lớp đầu của cấp trung học cơ sở, đồng thời cập nhật hoặc đưa vào một số nội dung mới thiết thực với học sinh. 

    Chẳng hạn như: không dạy các nội dung về đơn vị hành chính (làng, xã/phường; huyện/quận; tỉnh/thành phố) và các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, nông nghiệp, công nghiệp,…. ở tỉnh/thành phố.

    Chương trình môn Lịch sử và Địa lý (lớp 4, lớp 5)

    Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Lịch sử và Địa lý ở cấp Tiểu học là môn học bắt buộc, được dạy học ở lớp 4 và lớp 5. Môn học được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển từ môn Tự nhiên và xã hội các lớp 1, 2, 3 và là cơ sở để học môn Lịch sử và Địa lý ở cấp trung học cơ sở.

    Mục tiêu của môn học này sẽ góp phần hình thành các phẩm chất tốt đẹp (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm);

    Các năng lực chung (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo) và các năng lực chuyên môn của lịch sử và địa lý (năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội; năng lực quan sát, tìm tòi, khám phá môi trường tự nhiên và môi trường xã hội; năng lực vận dụng các kiến thức lịch sử và địa lý vào thực tiễn) để học tập các môn học khác cũng như để học tập suốt đời.

    Chương trình môn Lịch sử và Địa lý (Trung học cơ sở)

    Chương trình môn học này thể hiện ở ba mức độ tích hợp nội dung Lịch sử và Địa lý là:

    Tích hợp nội môn (trong từng nội dung giáo dục Lịch sử và giáo dục Địa lý);  tích hợp nội dung Lịch sử trong những phần phù hợp của bài Địa lý và tích hợp nội dung Địa lý trong những phần phù hợp của bài Lịch sử, nhằm tạo ra sự đối chiếu, tương tác tốt nhất giữa các kiến thức của hai phân môn và tích hợp tạo thành chủ đề chung.

    “Tích hợp, đồng sàng dị mộng”

    Điểm khác cơ bản so với chương trình hiện nay là nếu như chương trình và sách giáo khoa Lịch sử hiện nay viết riêng lịch sử thế giới, sau đó là lịch sử Việt Nam thì nội dung Lịch sử trong chương trình mới ở trung học cơ sở lấy trục lịch đại (thời gian làm trục xuyên suốt, vì thế, ở mỗi giai đoạn lịch sử đều cố gắng thiết kế nội môn theo mô hình: thế giới – khu vực – Việt Nam – lịch sử địa phương.

    Trong đó lấy lịch sử Việt Nam làm trọng tâm, chiếm 60% thời lượng của chương trình. Đây là điểm mới trong cấu trúc, trong tích hợp của phân môn lịch sử.

    Chương trình môn Lịch sử

    Ở cấp trung học phổ thông, Lịch sử là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh, thuộc nhóm môn Khoa học xã hội. 

    Điểm mới so với chương trình hiện hành là trục phát triển chính của Chương trình môn Lịch sử là hệ thống các chủ đề và chuyên đề về những vấn đề cơ bản của lịch sử thế giới, lịch sử khu vực Đông Nam Á và lịch sử Việt Nam, nhằm mục tiêu nâng cao và mở rộng kiến thức thông sử mà học sinh đã được học ở cấp trung học cơ sở.

    Chương trình môn Địa lí

    Chương trình môn Địa lý được thiết kế theo ba mạch: đại cương, thế giới, Việt Nam từ lớp 10 đến lớp 12 gồm cả kiến thức về địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế - xã hội; phát triển, mở rộng và nâng cao nội dung địa lý đã học ở cấp trung học cơ sở.

    Chương trình môn Khoa học

    Chương trình bao gồm 6 chủ đề là: chất; năng lượng; thực vật và động vật; nấm, vi khuẩn, virus; con người và sức khỏe; sinh vật và môi trường. Những chủ đề này được phát triển từ lớp 4 đến lớp 5. 

    Tích hợp môn Lịch sử, cuộc “cưỡng hôn kì lạ”

    So với chương trình hiện hành, chương trình tinh giản một số nội dung chồng chéo với môn học khác hoặc sẽ được học ở ngay các lớp đầu của cấp trung học cơ sở.

    Môn Khoa học tự nhiên

    Khoa học tự nhiên là môn học được xây dựng và phát triển trên nền tảng của Vật lý, Hoá học, Sinh học và Khoa học Trái Đất,... Đối tượng nghiên cứu của Khoa học tự nhiên là các sự vật, hiện tượng, quá trình, các thuộc tính cơ bản về sự tồn tại, vận động của thế giới tự nhiên.

    Chương trình môn Vật lí

    Chương trình môn Vật lý ở cấp trung học phổ thông, trên cơ sở nội dung nền tảng đã trang bị cho học sinh ở giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình môn Vật lý lựa chọn phát triển những vấn đề cốt lõi thiết thực nhất, đồng thời chú trọng đến những vấn đề mang tính ứng dụng cao là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật, khoa học và công nghệ.

    Chương trình môn Hoá học

    Chương trình môn Hóa học gồm 3 mạch nội dung cốt lõi : Kiến thức cơ sở hóa học chung; Kiến thức Hóa học vô cơ và kiến thức Hóa học hữu cơ. Trục phát triển chính của Chương trình môn Hóa học là hệ thống các chủ đề và chuyên đề về kiến thức cơ sở hóa học chung về cấu tạo chất và quá trình biến đổi hoá học.

    Chương trình môn Sinh học

    Chương trình môn Sinh học sẽ bao quát các cấp độ tổ chức sống gồm phân tử, tế bào, cơ thể, quần thể, quần xã – hệ sinh thái, sinh quyển. Mỗi cấp độ tổ chức sống bao gồm cấu trúc, chức năng; mối quan hệ giữa cấu trúc, chức năng và môi trường sống.

    Đối với môn Công nghệ

    Trong Chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục công nghệ cho học sinh được thực hiện từ lớp 3 đến lớp 12 thông qua môn Tin học và Công nghệ ở tiểu học và môn Công nghệ ở trung học. Công nghệ là môn học bắt buộc trong giai đoạn giáo dục cơ bản, là môn học lựa chọn thuộc nhóm Công nghệ và Nghệ thuật trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.

    Đối với môn Tin học

    Môn học này giữ vai trò chủ đạo trong việc chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm kiếm, tiếp nhận, mở rộng tri thức và sáng tạo trong thời đại thông tin, kết nối và toàn cầu hóa; hỗ trợ đắc lực học sinh tự học và tập nghiên cứu; tạo cơ sở vững chắc cho việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, phục vụ phát triển nội dung kiến thức mới.

    Chương trình môn Giáo dục thể chất

    Giáo dục thể chất là môn học bắt buộc được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12, đảm nhiệm một trong bốn mặt giáo dục Đức, Trí, Thể, Mỹ.

    Nội dung của môn học này sẽ được chia thành hai giai đoạn cơ bản: 

    Giai đoạn giáo dục cơ bản (ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở). Chương trình triển khai theo 4 mạch: Đội hình đội ngũ; Vận động cơ bản; Bài tập thể dục; Thể thao tự chọn.

    Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.

    Chương trình môn Âm nhạc

    Những thay đổi chủ yếu ở môn học này là:

    Thứ nhất, chương trình được mở rộng về phạm vi đối tượng giáo dục, lần đầu tiên được dạy ở trường trung học phổ thông.

    Thứ hai, chương trình được hoàn thiện về nội dung dạy học, lần đầu tiên nội dung nhạc cụ và hợp xướng được đưa vào chương trình.

    Thứ ba, chương trình vừa có nội dung tích hợp (lý thuyết âm nhạc), vừa có nội dung phân hóa (nhạc cụ); vừa là môn học bắt buộc (từ lớp 1 đến lớp 9), vừa là môn học lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12). Chương trình có hướng mở, để tác giả sách giáo khoa và giáo viên vận dụng linh hoạt, tránh quá tải.

    Thứ tư, chương trình tập trung phát triển năng lực thẩm mỹ và năng lực âm nhạc, với 4 thành phần: thể hiện âm nhạc, cảm thụ âm nhạc, phân tích và đánh giá âm nhạc, sáng tạo và ứng dụng âm nhạc.

    Thứ năm, chương trình có những đổi mới về phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, ví dụ đọc nhạc theo ký hiệu bàn tay, bộ gõ cơ thể, hát bè,...

    Thứ sáu, chương trình có điều chỉnh tên một vài nội dung, ví dụ: hát, đọc nhạc, thường thức âm nhạc, câu chuyện âm nhạc,...

    Với môn Mỹ thuật

    Trong Chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục mỹ thuật được thực hiện dạy học ở cả ba cấp và được chia thành hai giai đoạn: 

    Giai đoạn giáo dục cơ bản: Mỹ thuật là môn học bắt buộc

    Giai đoạn giáo dục định hướng nghề: Mỹ thuật là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh.

    Chương trình hoạt động trải nghiệm/ Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

    Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục được thực hiện bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12. Ở tiểu học, hoạt động này được gọi là Hoạt động trải nghiệm; ở trung học cơ sở và trung học phổ thông, được gọi là Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp.  

    Chương trình Hoạt động trải nghiệm bao gồm các nội dung hoạt động: Hoạt động phát triển cá nhân, Hoạt động lao động, Hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng, Hoạt động giáo dục hướng nghiệp. 

    Bốn nội dung hoạt động này được thực hiện thông qua bốn loại hoạt động chủ yếu: Sinh hoạt dưới cờ, Sinh hoạt lớp, Hoạt động giáo dục theo chủ đề và Hoạt động câu lạc bộ. 



  • Đây là nội dung và môn học mà con em chúng ta sẽ học ở bậc phổ thông từ năm 2019

    Hôm nay, 19/1, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức họp báo công bố về các môn học trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

    Trước đó, dự thảo các chương trình các môn học đã được các Vụ, Cục có liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và một số chuyên gia giáo dục, nhà khoa học, giảng viên trường sư phạm, giáo viên cốt cán tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đại diện cho đội ngũ giáo viên trên phạm vi cả nước góp ý.

    Chương trình môn học đã xây dựng dự thảo chương trình môn học ở các cấp học với 20 môn, trong đó các môn sẽ có mộ số nội dung đổi mới (Ảnh: TTXVN).

    Bước đầu, dự kiến chương trình các môn học sẽ có những đổi mới như sau:

    Với môn Tiếng Việt - Ngữ văn

    Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực Giáo dục ngôn ngữ và văn học, được học từ lớp 1 đến lớp 12.  Ở tiểu học, môn học này có tên là Tiếng Việt; ở trung học cơ sở và trung học phổ thông có tên là Ngữ văn.

    Trên cơ sở quán triệt các quy định cơ bản được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Chương trình Ngữ văn nhấn mạnh một số quan điểm xây dựng chương trình như sau:

    Thứ nhất, xây dựng dựa trên nền tảng lý luận và thực tiễn, cập nhật thành tựu của khoa học hiện đại.

    Thứ hai, lấy các kỹ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp/lớp.

    Thứ ba, xây dựng theo hướng mở; không quy định chi tiết về nội dung dạy học và các văn bản cụ thể mà chỉ quy định những yêu cầu cần đạt về đọc, viết, nói và nghe cho mỗi lớp; quy định một số kiến thức cơ bản, cốt lõi về văn học, tiếng Việt và một số văn bản quan trọng của văn học dân tộc là nội dung thống nhất bắt buộc đối với học sinh toàn quốc.

    Thứ tư, vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới, vừa chú trọng kế thừa và phát huy những ưu điểm của các chương trình Ngữ văn đã có, đặc biệt là chương trình hiện hành.

    Điểm khác biệt nhất so với các chương trình trước đây là chương trình Ngữ văn lần này được xây dựng xuất phát từ các phẩm chất và năng lực cần có của người học để lựa chọn nội dung dạy học.

    Phương pháp học môn này sẽ là giáo viên cần khơi gợi, vận dụng kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của học sinh về vấn đề đang học, từ đó tổ chức cho các em tìm hiểu, khám phá để tự mình bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện những hiểu biết ấy. Cần khuyến khích học sinh trao đổi và tranh luận, đặt câu hỏi cho mình và cho người khác khi đọc, viết, nói và nghe.

    Với môn Toán

    Theo đó, nội dung môn Toán thường mang tính trừu tượng, khái quát. Do đó, để hiểu và học được Toán, chương trình Toán ở trường phổ thông cần bảo đảm sự cân đối giữa “học” kiến thức và “áp dụng” kiến thức vào giải quyết vấn đề cụ thể.

    Mừng vui và lo lắng trước ngày công bố chương trình môn học mới

    Môn Toán là môn học bắt buộc và được phân chia theo hai giai đoạn.

    Giai đoạn giáo dục cơ bản: giúp học sinh nắm được một cách có hệ thống các khái niệm, nguyên lý, quy tắc toán học cần thiết nhất cho tất cả mọi người, làm nền tảng cho việc học tập ở các trình độ học tập tiếp theo hoặc có thể sử dụng trong cuộc sống hằng ngày.

    Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: giúp học sinh có cái nhìn tương đối tổng quát về Toán học, hiểu được vai trò và những ứng dụng của Toán học trong đời sống thực tế, những ngành nghề có liên quan đến toán học để học sinh có cơ sở định hướng nghề nghiệp sau này, cũng như có đủ năng lực tối thiểu để tự mình tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến toán học trong suốt cuộc đời.

    Mục tiêu của chương trình môn Toán sẽ giúp học sinh hình thành và phát triển những năng lực chung cốt lõi (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo và năng lực toán học.

    Ngoài ra, giúp cho học sinh có những kiến thức, kỹ năng toán học phổ thông, cơ bản, thiết yếu; phát triển khả năng giải quyết vấn đề có tính tích hợp liên môn giữa môn Toán và các môn học khác như Vật lý, Hoá học, Sinh học, Địa lý, Tin học, Công nghệ,...; tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tế.

    Môn học này còn hình thành và phát triển những phẩm chất chung (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và những phẩm chất mà giáo dục toán học đem lại (tính kỷ luật, kiên trì, độc lập, sáng tạo, hợp tác; thói quen tự học, hứng thú và niềm tin trong học Toán)….

    Với môn Giáo dục công dân

    Mục tiêu chung của môn Giáo dục công dân (ở tiểu học gọi là môn Đạo đức, ở trung học cơ sở là môn Giáo dục công dân, ở trung học phổ thông là môn Giáo dục kinh tế và pháp luật).

    Môn học này giúp học sinh hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm và các năng lực của người công dân Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới, đặc biệt là yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Ở tiểu học, môn Đạo đức giúp học sinh hình thành và phát triển cảm xúc tích cực, ý thức đúng đắn về những chuẩn mực hành vi đạo đức; cách cư xử, thói quen, nền nếp cơ bản, cần thiết trong học tập và sinh hoạt phù hợp với giá trị văn hoá, chuẩn mực đạo đức, quy tắc của cộng đồng, quy định của pháp luật, quy luật của tự nhiên và xã hội.

    Ở trung học cơ sở, môn Giáo dục công dân giúp học sinh có ý thức tự điều chỉnh, tự hoàn thiện bản thân; hình thành, duy trì mối quan hệ hòa hợp với những người xung quanh; thích ứng một cách linh hoạt với xã hội biến đổi và thực hiện mục tiêu, kế hoạch của bản thân trên cơ sở các giá trị đạo đức, quy định của pháp luật.

    Ở trung học phổ thông, dựa trên những kiến thức cơ bản, cốt lõi, thiết thực đối với đời sống và định hướng nghề nghiệp sau trung học phổ thông về kinh tế và pháp luật.

    Môn Giáo dục kinh tế và pháp luật giúp học sinh có được tình cảm, nhận thức, niềm tin và bản lĩnh phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật.

    Giáo viên giáo dục công dân ở Đà Nẵng bàn cách đổi mới

    Các em có được năng lực thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân; có kỹ năng sống và bản lĩnh để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và hội nhập quốc tế. Nội dung chủ yếu của môn Giáo dục công dân là giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, pháp luật và kinh tế.

    Ở tiểu học và trung học cơ sở, nội dung môn học định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, quê hương, cộng đồng, nhằm hình thành cho học sinh thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập, sinh hoạt và ý thức tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật.

    Chương trình môn Tự nhiên và xã hội

    Môn học này sẽ giúp học sinh hình thành và phát triển tình yêu con người, thiên nhiên; tính chăm chỉ; ý thức bảo vệ sức khoẻ thể chất và tinh thần của bản thân, gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ tài sản; tinh thần trách nhiệm với môi trường sống.

    Môn học này sẽ tập trung vào 6 chủ đề là gia đình, trường học, cộng đồng địa phương, thực vật và động vật, con người và sức khoẻ, Trái Đất và bầu trời.

    Mỗi chủ đề đều thể hiện mối liên quan, sự tương tác giữa con người với các yếu tố tự nhiên và xã hội trên cơ sở giáo dục giá trị và kỹ năng sống.

    Giáo dục các vấn đề liên quan đến việc giữ gìn sức khỏe, bảo vệ cuộc sống an toàn của bản thân, gia đình và cộng đồng, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai ở mức độ đơn giản và phù hợp.

    So với chương trình hiện hành, chương trình Tự nhiên và xã hội mới tinh giản một số nội dung khó hoặc sẽ được học ở ngay các lớp đầu của cấp trung học cơ sở, đồng thời cập nhật hoặc đưa vào một số nội dung mới thiết thực với học sinh.

    Chẳng hạn như: không dạy các nội dung về đơn vị hành chính (làng, xã/phường; huyện/quận; tỉnh/thành phố) và các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, nông nghiệp, công nghiệp,…. ở tỉnh/thành phố.

    Chương trình môn Lịch sử và Địa lý (lớp 4, lớp 5)

    Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Lịch sử và Địa lý ở cấp Tiểu học là môn học bắt buộc, được dạy học ở lớp 4 và lớp 5.

    Môn học được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển từ môn Tự nhiên và xã hội các lớp 1, 2, 3 và là cơ sở để học môn Lịch sử và Địa lý ở cấp trung học cơ sở.

    Mục tiêu của môn học này sẽ góp phần hình thành các phẩm chất tốt đẹp (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm); các năng lực chung (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo) và các năng lực chuyên môn của lịch sử và địa lý (năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội;

    Năng lực quan sát, tìm tòi, khám phá môi trường tự nhiên và môi trường xã hội; năng lực vận dụng các kiến thức lịch sử và địa lý vào thực tiễn) để học tập các môn học khác cũng như để học tập suốt đời.

    Chương trình môn Lịch sử và Địa lý (trung học cơ sở)

    Lịch sử và Địa lý là môn học bắt buộc ở cấp trung học cơ sở trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

    Môn Lịch sử và Địa lý giúp học sinh hình thành và phát triển những năng lực chung và năng lực chuyên môn Lịch sử và Địa lý trên cơ sở nền tảng kiến thức cơ bản, có chọn lọc về thế giới, quốc gia và địa phương, về các quá trình tự nhiên, kinh tế – xã hội và văn hoá diễn ra trong không gian và thời gian, về sự tương tác giữa xã hội loài người và môi trường thiên nhiên.

    Chương trình môn học này thể hiện ở ba mức độ tích hợp nội dung Lịch sử và Địa lý là: tích hợp nội môn (trong từng nội dung giáo dục Lịch sử và giáo dục Địa lý); tích hợp nội dung Lịch sử trong những phần phù hợp của bài Địa lý và tích hợp nội dung Địa lý trong những phần phù hợp của bài Lịch sử, nhằm tạo ra sự đối chiếu, tương tác tốt nhất giữa các kiến thức của hai phân môn và tích hợp tạo thành chủ đề chung.

    Chính chương trình và cách dạy làm học sinh chán môn Lịch sử

    Điểm khác cơ bản so với chương trình hiện này là nếu như chương trình và sách giáo khoa Lịch sử hiện nay viết riêng lịch sử thế giới, sau đó là lịch sử Việt Nam thì nội dung Lịch sử trong chương trình mới ở trung học cơ sở lấy trục lịch đại (thời gian làm trục xuyên suốt).

    Vì thế, ở mỗi giai đoạn lịch sử đều cố gắng thiết kế nội môn theo mô hình: thế giới – khu vực – Việt Nam – lịch sử địa phương, trong đó lấy lịch sử Việt Nam làm trọng tâm, chiếm 60% thời lượng của chương trình. Đây là điểm mới trong cấu trúc, trong tích hợp của phân môn lịch sử.

    Chương trình môn Lịch sử

    Trong Chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục lịch sử được thực hiện liên tục ở cả ba cấp học thông qua các môn Tự nhiên và Xã hội (ở lớp 1, lớp 2, lớp 3), Lịch sử và Địa lý (từ lớp 4 đến lớp 9), Lịch sử (ở trung học phổ thông).

    Ở cấp trung học phổ thông, Lịch sử là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh, thuộc nhóm môn Khoa học xã hội.

    Môn Lịch sử giúp học sinh phát triển năng lực sử học, đặc biệt là tư duy lịch sử, các khả năng thu thập và xử lý số liệu, kết nối quá khứ với hiện tại, vận dụng các bài học lịch sử vào việc giải quyết những vấn đề của thực tế cuộc sống.

    Điểm mới so với chương trình hiện hành là trục phát triển chính của Chương trình môn Lịch sử là hệ thống các chủ đề và chuyên đề về những vấn đề cơ bản của lịch sử thế giới, lịch sử khu vực Đông Nam Á và lịch sử Việt Nam, nhằm mục tiêu nâng cao và mở rộng kiến thức thông sử mà học sinh đã được học ở cấp trung học cơ sở.

    Với Chương trình môn Địa lí

    Trong Chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục địa lý được thực hiện liên tục ở cả ba cấp học thông qua các môn Tự nhiên và Xã hội (ở lớp 1, lớp 2, lớp 3), Lịch sử và Địa lý (từ lớp 4 đến lớp 9), Địa lý (ở trung học phổ thông).

    Ở cấp trung học phổ thông, Môn Địa lý là một trong các môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh.

    Chương trình môn Địa lý sẽ cụ thể hóa mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, tiếp tục phát triển ở học sinh những phẩm chất, năng lực đã được hình thành trong giai đoạn giáo dục cơ bản.

    Phát triển và hoàn thiện các năng lực môn học thông qua việc trang bị những kiến thức về địa lý đại cương, địa lý kinh tế - xã hội thế giới, địa lý Việt Nam và phương pháp giáo dục đề cao hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh.

    Chương trình môn Địa lý được thiết kế theo ba mạch: đại cương, thế giới, Việt Nam từ lớp 10 đến lớp 12 gồm cả kiến thức về địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế - xã hội; phát triển, mở rộng và nâng cao nội dung địa lý đã học ở cấp trung học cơ sở.

    Chương trình môn Khoa học

    Môn Khoa học ở lớp 4, 5 với thời lượng 70 tiết cho mỗi lớp, được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển từ môn Tự nhiên và Xã hội (ở các lớp 1, 2, 3).

    Học sinh học chương trình mới sẽ phải học bao nhiêu môn?

    Môn học này góp phần hình thành và phát triển ở học sinh tình yêu con người, thiên nhiên; trí tò mò khoa học, hứng thú tìm hiểu thế giới tự nhiên; ý thức bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh thần của bản thân, gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; tinh thần trách nhiệm với môi trường sống.

    Chương trình bao gồm 6 chủ đề là: chất; năng lượng; thực vật và động vật; nấm, vi khuẩn, virus; con người và sức khoẻ; sinh vật và môi trường. Những chủ đề này được phát triển từ lớp 4 đến lớp 5.  

    So với chương trình hiện hành, chương trình tinh giản một số nội dung chồng chéo với môn học khác hoặc sẽ được học ở ngay các lớp đầu của cấp trung học cơ sở.

    Môn Khoa học tự nhiên

    Khoa học tự nhiên là môn học được xây dựng và phát triển trên nền tảng của Vật lý, Hoá học, Sinh học và Khoa học Trái Đất,... Đối tượng nghiên cứu của Khoa học tự nhiên là các sự vật, hiện tượng, quá trình, các thuộc tính cơ bản về sự tồn tại, vận động của thế giới tự nhiên.

    Cùng với các môn học khác, môn Khoa học tự nhiên góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông, giúp học sinh phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời.

    Với Chương trình môn Vật lí

    Trong Chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục vật lý được phân bố ở cả ba cấp học với các mức độ khác nhau, thông qua các môn học: Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2 và lớp 3); Khoa học (lớp 4 và lớp 5); Khoa học tự nhiên (Trung học cơ sở); Vật lý (trung học phổ thông).

    Chương trình môn Vật lý giúp học sinh đạt được các phẩm chất và năng lực được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể; Có được những kiến thức phổ thông cốt lõi về: các mô hình hệ vật lý; chất, năng lượng và sóng; lực và trường;

    Vận dụng được một số kỹ năng tiến trình khoa học; bước đầu sử dụng được toán học, tin học làm ngôn ngữ, công cụ giải quyết vấn đề; Vận dụng được một số tri thức vào thực tiễn, ứng xử được với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường.

    Ở cấp trung học phổ thông, trên cơ sở nội dung nền tảng đã trang bị cho học sinh ở giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình môn Vật lý lựa chọn phát triển những vấn đề cốt lõi thiết thực nhất, đồng thời chú trọng đến những vấn đề mang tính ứng dụng cao là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật, khoa học và công nghệ.

    Chương trình môn Hoá học

    Chương trình môn Hóa học cấp trung học phổ thông giúp học sinh phát triển các năng lực thành phần của năng lực tìm hiểu tự nhiên, gắn với chuyên môn về hóa học như: năng lực nhận thức kiến thức hóa học; năng lực tìm tòi, khám phá kiến thức hóa học; năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn.

    Tổng Chủ biên nói về quan điểm dạy tích hợp

    Từ đó, học sinh biết ứng xử với tự nhiên một cách đúng đắn, khoa học và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân.

    Chương trình môn Hóa học gồm 3 mạch nội dung cốt lõi: Kiến thức cơ sở hóa học chung; Kiến thức Hóa học vô cơ và kiến thức Hóa học hữu cơ.

    Trục phát triển chính của Chương trình môn Hóa học là hệ thống các chủ đề và chuyên đề về kiến thức cơ sở hóa học chung về cấu tạo chất và quá trình biến đổi hóa học.

    Với Chương trình môn Sinh học

    Môn học này là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh. Môn Sinh học góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên môn.

    Chương trình môn Sinh học sẽ bao quát các cấp độ tổ chức sống gồm phân tử, tế bào, cơ thể, quần thể, quần xã – hệ sinh thái, sinh quyển. Mỗi cấp độ tổ chức sống bao gồm cấu trúc, chức năng; mối quan hệ giữa cấu trúc, chức năng và môi trường sống.

    Đối với môn Công nghệ

    Trong Chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục công nghệ cho học sinh được thực hiện từ lớp 3 đến lớp 12 thông qua môn Tin học và Công nghệ ở tiểu học và môn Công nghệ ở trung học.

    Công nghệ là môn học bắt buộc trong giai đoạn giáo dục cơ bản, là môn học lựa chọn thuộc nhóm Công nghệ và Nghệ thuật trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.

    Giáo dục công nghệ phổ thông chuẩn bị cho học sinh học tập và làm việc hiệu quả trong môi trường công nghệ ở gia đình, nhà trường và xã hội; hình thành và phát triển các năng lực thiết kế, sử dụng, giao tiếp, đánh giá, và hiểu biết công nghệ;

    Góp phần phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp; chuẩn bị cho học sinh các tri thức nền tảng để theo học các ngành nghề thuộc các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ theo cả hai hướng hàn lâm và giáo dục nghề nghiệp.

    Nội dung giáo dục công nghệ rộng, đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ khác nhau. Trong Chương trình môn Công nghệ, có những nội dung cơ bản, cốt lõi, phổ thông tất cả học sinh đều phải học.

    Đối với môn Tin học

    Môn học này giữ vai trò chủ đạo trong việc chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm kiếm, tiếp nhận, mở rộng tri thức và sáng tạo trong thời đại thông tin, kết nối và toàn cầu hóa; hỗ trợ đắc lực học sinh tự học và tập nghiên cứu; tạo cơ sở vững chắc cho việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, phục vụ phát triển nội dung kiến thức mới.

    Môn học này sẽ giúp học sinh có được năng lực sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ và các hệ thống tự động hóa của công nghệ thông tin và truyền thông; có năng lực hiểu biết và ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật trong môi trường số hóa; có năng lực nhận biết và giải quyết vấn đề trong môi trường thông tin và nền kinh tế tri thức…

    Chương trình môn Giáo dục thể chất

    Giáo dục thể chất là môn học bắt buộc được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12, đảm nhiệm một trong bốn mặt giáo dục Đức, Trí, Thể, Mỹ.

    Chương trình môn Giáo dục thể chất tập trung phát triển các năng lực chăm sóc sức khỏe, vận động cơ bản và thể dục thể thao, nhằm phát triển các tố chất thể lực của học sinh; giúp học sinh phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần;

    Giáo viên thể dục đang được hưởng một lúc nhiều chế độ, quyền lợi khác nhau

    Giúp các em có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có sức khỏe, có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.

    Nội dung của môn học này sẽ được chia thành hai giai đoạn cơ bản:

    Giai đoạn giáo dục cơ bản (ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở). Chương trình triển khai theo 4 mạch: Đội hình đội ngũ; Vận động cơ bản; Bài tập thể dục; Thể thao tự chọn.

    Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.

    Chương trình môn Âm nhạc

    Những thay đổi chủ yếu ở môn học này là:

    Thứ nhất, chương trình được mở rộng về phạm vi đối tượng giáo dục, lần đầu tiên được dạy ở trường trung học phổ thông.

    Thứ hai, chương trình được hoàn thiện về nội dung dạy học, lần đầu tiên nội dung nhạc cụ và hợp xướng được đưa vào chương trình.

    Thứ ba, chương trình vừa có nội dung tích hợp (lý thuyết âm nhạc), vừa có nội dung phân hóa (nhạc cụ); vừa là môn học bắt buộc (từ lớp 1 đến lớp 9), vừa là môn học lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12). Chương trình có hướng mở, để tác giả sách giáo khoa và giáo viên vận dụng linh hoạt, tránh quá tải.

    Thứ tư, chương trình tập trung phát triển năng lực thẩm mỹ và năng lực âm nhạc, với 4 thành phần: thể hiện âm nhạc, cảm thụ âm nhạc, phân tích và đánh giá âm nhạc, sáng tạo và ứng dụng âm nhạc.

    Thứ năm, chương trình có những đổi mới về phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, ví dụ đọc nhạc theo ký hiệu bàn tay, bộ gõ cơ thể, hát bè,...

    Thứ sáu, chương trình có điều chỉnh tên một vài nội dung, ví dụ: hát, đọc nhạc, thưởng thức âm nhạc, câu chuyện âm nhạc,...

    Với môn Mỹ thuật

    Trong Chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục mỹ thuật được thực hiện dạy học ở cả ba cấp và được chia thành hai giai đoạn:

    Giai đoạn giáo dục cơ bản: Mỹ thuật là môn học bắt buộc

    Giai đoạn giáo dục định hướng nghề: Mỹ thuật là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh.

    Mục tiêu của môn học này là giúp học sinh hình thành, phát triển ở học sinh năng lực thẩm mỹ; bồi dưỡng ý thức tôn trọng sản phẩm văn hóa, nghệ thuật và khả năng ứng dụng năng lực thẩm mỹ vào đời sống.

    Trang bị cho học sinh cái nhìn tương đối tổng quát về những ngành nghề liên quan đến mỹ thuật để định hướng nghề nghiệp sau khi hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông.

    Chương trình hoạt động trải nghiệm/ Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

    Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục được thực hiện bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12. Ở tiểu học, hoạt động này được gọi là Hoạt động trải nghiệm; ở trung học cơ sở và trung học phổ thông, được gọi là Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. 

    Chương trình Hoạt động trải nghiệm bao gồm các nội dung hoạt động: Hoạt động phát triển cá nhân, Hoạt động lao động, Hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng, Hoạt động giáo dục hướng nghiệp.

    Bốn nội dung hoạt động này được thực hiện thông qua bốn loại hoạt động chủ yếu: Sinh hoạt dưới cờ, Sinh hoạt lớp, Hoạt động giáo dục theo chủ đề và Hoạt động câu lạc bộ.

    Một số nội dung sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam được tích hợp trong nội dung các hoạt động trên.



  • Tiền đâu nhà trường tổ chức hoạt động trải nghiệm, cơ chế nào ngăn chặn lạm thu?

    LTS: Băn khoăn về kinh phí của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông, cô giáo Phan Tuyết lo ngại tình trạng lạm thu sẽ tiếp tục diễn ra nếu kêu gọi sự đóng góp từ phụ huynh.

    Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

    Hoạt động trải nghiệm trong chương trình phổ thông mới không phải là một môn học mà là hoạt động giáo dục được thực hiện bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12 như khẳng định của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Thị Kim Thoa, Tổng chủ biên chương trình Hoạt động trải nghiệm.

    Tuy nhiên, học sinh sẽ phải tham gia các hoạt động trải nghiệm và được đánh giá.

    Đây là điểm mới khác xa với chương trình cũ.

    Một hoạt động trải nghiệm ở bậc tiểu học. (Ảnh minh họa: baoquangninh.com.vn)

    Thế nhưng khá nhiều người lại tỏ ra băn khoăn, lo lắng vì ngoài cách tổ chức giảng dạy ở trường sao cho hiệu quả còn phải tổ chức cho các em đi tham quan dã ngoại, đi vào thực tế.

    Như thế mới đúng với cụm từ “trải nghiệm sáng tạo”.

    Câu hỏi đặt ra, kinh phí nào chi cho những hoạt động này? Nếu là xã hội hóa thì mức đóng góp của phụ huynh là bao nhiêu một năm?

    Kiểm soát, chế tài thế nào để tránh xảy ra tình trạng lạm thu như quỹ hội phụ huynh?

    Khó khăn khi tổ chức trải nghiệm ở trường tiểu học

    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ có 4 nhóm nội dung được triển khai thực hiện thông qua 4 loại hình hoạt động trải nghiệm trong nhà trường. Những loại hình này chẳng khác gì chương trình hiện hành.

    Đó là sinh hoạt dưới cờ; sinh hoạt lớp; hoạt động giáo dục theo chủ đề và cuối cùng là hoạt động những câu lạc bộ.

    Hiện nay, dù đang học chương trình cũ không có hoạt động giáo dục có tên là Hoạt động trải nghiệm sáng tạo như chương trình mới nhưng nhiều trường học hiện nay cũng đang thực hiện dạy đầy đủ 4 nội dung giảng dạy thế này.

    Tại sao Hoạt động trải nghiệm giáo dục phổ thông đang lay lắt?

    Nếu chỉ như thế thì có nhất thiết phải có thêm Hoạt động trải nghiệm sáng tạo hay không?

    Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Thị Kim Thoa - Chủ nhiệm khoa Các khoa học giáo dục, Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) nói về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo: 

    "Như vậy làm, thực hành, trải nghiệm đều là những phương thức học hiệu quả, gắn với vận động, với thao tác vật chất, với đời sống thực. 

    Việc học thông qua làm, học đi đôi với hành và học từ trải nghiệm đều giúp người học đạt được tri thức và kinh nghiệm nhưng theo các hướng tiếp cận không hoàn toàn như nhau, trong đó trải nghiệm có ý nghĩa giáo dục cao nhất và có phần bao hàm cả làm và thực hành".

    Làm được như Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Thị Kim Thoa nói mới thật sự là điểm khác biệt so với chương trình cũ.

    Những thực hành, trải nghiệm thông qua những việc làm cụ thể cho các em như lao động công ích, quét dọn sân trường, làm đất, trồng rau, trồng hoa, nhổ cỏ, bắt sâu, chăm bón cây… sẽ hiệu quả hơn rất nhiều việc học sinh chỉ ngồi nghe những bài giảng về kĩ năng sống trong lớp.

    Mà những việc này thì các trường học ở nông thôn vẫn làm mấy chục năm qua.

    Còn đòi hỏi các "trải nghiệm" cao hơn như tham quan, quan sát thực tế đòi hỏi phải tổ chức chặt chẽ và kinh phí đảm bảo.

    Những trường không có đất làm vườn trường họ thường liên hệ với nhiều cơ sở sản xuất xung quanh vùng để tổ chức cho học sinh đi tham quan, đi thực tế một ngày.

    Những cô cậu học trò được hóa thân thành bác nông dân, xuống hồ đơm cá, lội ruộng nhổ cỏ hay gói bánh chưng hay anh chị công nhân làm gốm, đúc gạch… thông qua trải nghiệm bằng việc làm cụ thể này thấy các em rất sôi nổi, hào hứng.

    Có trường lại tổ chức cho các em đi tham quan các di tích lịch sử, các thắng cảnh, đi viếng nghĩa trang liệt sĩ để nghe kể chuyện về các anh hùng, thăm và giúp đỡ gia đình neo đơn, bà mẹ Việt Nam anh hùng…

    Làm được những điều ấy mới thật sự đúng ý nghĩa Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Thế nhưng để làm được như thế buộc phải có kinh phí. Vậy kinh phí lấy từ đâu?

    Trả lời trên VOV, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Thị Kim Thoa chia sẻ rằng, chương trình Hoạt động trải nghiệm là chương trình giáo dục bắt buộc nên không đòi hỏi việc đóng góp ngoài quy định.

    Các trường học có thể tổ chức những hoạt động trải nghiệm mang tính xã hội như tình nguyện, vì cộng đồng một cách rất tốt nhưng kinh phí không tốn kém và lại rất hiệu quả, thiết thực với xã hội.

    Còn những hoạt động mang tính chất khám phá hay đi thực địa như các cuộc tham quan, dã ngoại, chuyến đi thực tế... có thể được “xã hội hóa” từ các tổ chức đoàn thể, các đơn vị, cá nhân hỗ trợ để nhà trường thực hiện tốt.

    Tôi rất băn khoăn về việc dạy hoạt động trải nghiệm ở bậc tiểu học

    Điều này đòi hỏi nhà trường chủ động thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục.

    Các khoản kinh phí phát sinh có thể sử dụng từ đóng góp của phụ huynh và từ công tác xã hội hóa nhưng cũng cần được các bên thống nhất, công khai minh bạch về tài chính để sử dụng đúng mục đích.

    Nói đến xã hội hóa là phải huy động đóng góp. Vậy nếu huy động sự đóng góp từ phụ huynh sẽ góp bao nhiêu?

    Làm không khéo chuyện lạm thu sẽ bùng phát. Người dân đang kêu trời vì quỹ hội phụ huynh tự nguyện mỗi năm một lạm thu mà chưa có cách gì chấm dứt.

    Nay thêm quỹ tham quan, trải nghiệm liệu gánh nặng kinh tế có đổ lên vai phụ huynh nhất là phụ huynh nghèo?

    Và nếu một trong những phụ huynh ấy không đồng ý nộp tiền cho con thì học sinh ấy chắc chắn sẽ không có tên trong danh sách đi thực tế.

    Em ấy sẽ bị xếp kết quả hoạt động này thế nào?

    Thế mới thấy, các nhà soạn chương trình hoạt động trải nghiệm mới chỉ thấy Hàn Quốc người ta tổ chức cho học sinh các hoạt động trải nghiệm hấp dẫn, mà chưa thấy nguồn lực tài chính để thực hiện nó.

    Quý thầy quý cô càng chưa đặt mình vào địa vị của phần đông cha mẹ học sinh là người lao động có thu nhập không mấy dư dật.

    Nhưng những gì quý thầy, quý cô đang viết ra để chúng tôi thực hiện, có thể làm tăng gánh nặng cho xã hội, cha mẹ học sinh và phức tạp thêm rất nhiều vấn nạn lạm thu trường học.

    Những câu chuyện từ thực tế

    Vài năm nay, khá nhiều trường học ở các địa phương đã tổ chức cho học sinh đi tham quan các di tích, đi thực tế… những địa điểm tham quan này thường ở khá xa với trường. Vì thế, nhà trường phải thuê xe để chở học sinh.

    Kinh phí phát sinh nào tiền xe, tiền ăn, uống, tiền vé vào cổng… không có trường học nào lo nổi số tiền này và phụ huynh phải đóng góp.

    Thế rồi có trường đóng cao, trường đóng thấp vì liên quan đến địa điểm nhà trường sẽ đi xa hay gần, liên quan đến việc tổ chức ăn ngon hay dở.

    Có phụ huynh muốn con được hưởng cái gì cũng tốt nhất nên muốn đóng tiền nhiều. Phụ huynh nghèo lại muốn đơn giản.

    Để đưa ra mức giá vừa phải hợp lòng tất cả phụ huynh cũng chẳng hề đơn giản. Có phụ huynh lại cương quyết không cho con đi. Rồi sau khi tham quan về, việc khen chê đắt rẻ cũng cứ xôn xao nơi này, nơi khác.

    Khó khăn lớn nhất để thực hiện tốt mục tiêu của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo vẫn là kinh phí.

    Ngân sách nhà nước không thể kham nổi cho hoạt động này thì đương nhiên phải xã hội hóa.

    Sợ rằng tình trạng lạm thu lại xuất hiện như quỹ hội phụ huynh. Bởi thế, ban soạn thảo chương trình cần có sự tính toán cụ thể cho phù hợp với điều kiện kinh tế của từng địa phương trên cả nước.

    Tài liệu tham khảo: 

    https://vov.vn/xa-hoi/giao-duc/dua-hoat-dong-trai-nghiem-vao-truong-hoc-lieu-co-xay-ra-lam-thu-718535.vov



  • Trong chương trình mới, môn Tự nhiên và Xã hội sẽ tinh giản một số nội dung khó

    Được biết, chương trình các môn học ở chương trình giáo dục phổ thông mới có nhiều thay đổi so với chương trình hiện hành. Và Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết sẽ công bố dự thảo các môn học trong tháng 1/2018.

    Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam sẽ tóm lược dự thảo nội dung chương trình từng môn học để độc giả thuận tiện trong việc theo dõi. 

    Mọi thông tin độc giả muốn góp ý đối với dự thảo nội dung chương trình môn học, vui lòng gửi vào hòm thư: toasoan@giaoduc.net.vn

    Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Tự nhiên và Xã hội ở các lớp 1, 2, 3 với thời lượng 70 tiết cho mỗi lớp.

    Môn học nhằm giúp học sinh học tập các môn Khoa học, Lịch sử và Địa lý ở các lớp 4, 5 của cấp tiểu học, đồng thời góp phần đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

    Môn Tự nhiên và Xã hội nhấn mạnh các quan điểm như tích hợp những nội dung liên quan đến thế giới tự nhiên và xã hội, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của con người là cầu nối giữa tự nhiên và xã hội;

    Tổ chức nội dung chương trình thành các chủ đề theo hướng mở rộng và nâng cao từ lớp 1 đến lớp 3; Tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập bằng cách giúp các em biết đặt câu hỏi, tham gia vào những hoạt động trải nghiệm có ý nghĩa để tìm kiếm câu trả lời;

    Tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi điều tra, khám phá; Hướng dẫn học sinh thể hiện việc học tập của cá nhân và nhóm thông qua các sản phẩm học tập; khuyến khích học sinh vận dụng được những điều đã học vào đời sống.

    Trong chương trình mới, môn Tự nhiên và Xã hội sẽ tinh giản một số nội dung khó (Ảnh minh họa: Báo Kinh tế đô thị)

    Học sinh học 6 chủ đề, tinh giản nội dung khó của chương trình cũ

    Nội dung môn Tự nhiên và Xã hội gồm 6 chủ đề là gia đình, trường học, cộng đồng địa phương, thực vật và động vật, con người và sức khoẻ, Trái Đất và bầu trời.

    Mỗi chủ đề đều thể hiện mối liên quan, sự tương tác giữa con người với các yếu tố tự nhiên và xã hội trên cơ sở giáo dục giá trị và kỹ năng sống;

    Giáo dục các vấn đề liên quan đến việc giữ gìn sức khỏe, bảo vệ cuộc sống an toàn của bản thân, gia đình và cộng đồng, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai ở mức độ đơn giản và phù hợp.

    Toàn cảnh nội dung tích hợp Lịch sử và Địa Lý trong chương trình mới

    So với chương trình hiện hành, chương trình Tự nhiên và xã hội mới tinh giản một số nội dung khó hoặc sẽ được học ở ngay các lớp đầu của cấp trung học cơ sở, đồng thời cập nhật hoặc đưa vào một số nội dung mới thiết thực với học sinh.

    Ví dụ cụ thể, môn học sẽ không dạy các nội dung về đơn vị hành chính (làng, xã/phường; huyện/quận; tỉnh/thành phố) và các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, nông nghiệp, công nghiệp,…. ở tỉnh/thành phố;

    Giảm bớt một số nội dung kiến thức trong chủ đề Trái Đất và bầu trời; đưa vào một số nội dung mới như tìm hiểu về lễ hội, về di tích văn hóa lịch sử và cảnh đẹp ở địa phương; một số thiên tai thường gặp và cách phòng tránh; cách bảo vệ sự an toàn của bản thân, phòng tránh bị xâm hại,… 

    Đặc biệt, trong chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Tự nhiên và xã hội được quán triệt theo hướng phát triển năng lực cho học sinh.

    Hướng dẫn học sinh cách đặt câu hỏi, cách thu thập thông tin và tìm kiếm các bằng chứng, cách vận dụng các thông tin/bằng chứng thu thập được để đưa ra những nhận xét, kết luận mang tính khách quan, khoa học;

    Và việc đánh giá môn học Tự nhiên xã hội không chỉ qua việc việc hiểu biết kiến thức, mà cần quan tâm đến việc đánh giá các kỹ năng, thái độ của học sinh trong học tập môn Tự nhiên và xã hội.

    Giáo viên sử dụng nhiều công cụ khác nhau như câu hỏi, bài tập, biểu mẫu quan sát, bài thực hành, dự án học tập, sản phẩm,...

    Các hình thức đánh giá gồm đánh giá của giáo viên, tự đánh giá của học sinh, đánh giá đồng đẳng của học sinh, đánh giá của cha mẹ học sinh. Qua các hoạt động đánh giá, học sinh có cơ hội phát triển năng lực tư duy phản biện, năng lực giao tiếp, hợp tác. 

    Đánh giá tổng kết môn học được thực hiện sau khi học xong các chủ đề về xã hội (Gia đình, Trường học, Cộng đồng địa phương) và các chủ đề về tự nhiên (Thực vật và động vật, Con người và sức khoẻ, Trái Đất và bầu trời) với mục đích xác định xem học sinh đã học được những gì.

    Kết quả đánh giá tổng kết môn Tự nhiên và xã hội là những nhận xét cụ thể của giáo viên về việc học sinh đạt được hay chưa đạt được những yêu cầu đã được nêu trong chương trình môn học.



  • Năm 2018, Đại học Quốc gia Hà Nội xét tuyển đối tượng sử dụng kết quả SAT

    Năm 2018, Đại học Quốc gia Hà Nội xét tuyển với thí sinh sử dụng: kết quả kì thi trung học phổ thông quốc gia; kết quả thi đánh giá năng lực còn hạn sử dụng do Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức; chứng chỉ quốc tế quốc tế Cambridge International Examinations A-Level; kết quả kỳ thi chuẩn hóa SAT (Scholastic Assessment Test, Hoa Kỳ).

    Đây cũng là năm đầu tiên Đại học Quốc gia Hà Nội xét tuyển đối tượng sử dụng kết quả SAT đăng ký vào.

    Các chương trình đào tạo mới tuyển sinh năm 2018 gồm: Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng, Kỹ thuật Robot,Công nghệ Hàng không Vũ trụ, Khoa học Thông tin Địa không gian, Sư phạm tiếng Đức, Quản trị Trường học...

    Ngoài ra, nhiều chương trình đào tạo truyền thống được Đại học Quốc gia Hà Nội chuyển đổi theo hướng mô hình đào tạo chất lượng cao.

    Hầu hết các chương trình đào tạo đều có sử dụng tổ hợp xét tuyển bài thi Ngoại ngữ.

    Đại học Quốc gia Hà Nội cũng tiếp tục đẩy mạnh thu hút và xét tuyển đối với các sinh viên quốc tế theo học các chương trình đào tạo chất lượng cao, chuẩn quốc tế trong năm 2018.

    Thông tin đăng ký xét tuyển cụ thể như sau:

    TT

    Mã đơn vị đào tạo

    Mã ngành/ nhóm ngành

    Tên ngành

    Tổ hợp môn xét tuyển 1

    Tổ hợp môn xét tuyển 2

    Tổ hợp môn xét tuyển 3

    Tổ hợp môn xét tuyển 4

    Mã tổ hợp môn

    Môn chính

    Mã tổ hợp môn

    Môn chính

    Mã tổ hợp môn

    Môn chính

    Mã tổ hợp môn

    Môn chính

    1. Trường Đại học Công nghệ

    1.1

    QHI

    CN1

    Công nghệ thông tin

    A00

    A01

    A02

    D07-08

    1.2

    QHI

    Công nghệ thông tin định hướng thị trường Nhật Bản

    A00

    A01

    A02

    D07-08

    1.3

    QHI

    Hệ thống thông tin

    A00

    A01

    A02

    D07-08

    1.4

    QHI

    Mạng máy tính và truyền thông dữ liệu

    A00

    A01

    A02

    D07-08

    1.5

    QHI

    CN2

    Kỹ thuật robot*

    A00

    A01

    D07

    1.6

    QHI

    Kỹ thuật máy tính

    A00

    A01

    D07

    1.7

    QHI

    CN3

    Kỹ thuật năng lượng*

    A00

    A01

    A02

    D07-08

    1.8

    QHI

    Vật lí kỹ thuật

    A00

    A01

    A02

    D07-08

    1.9

    QHI

    CN4

    Cơ kỹ thuật

    A00

    A01

    A02

    D07-08

    1.10

    QHI

    CN5

    Công nghệ kỹ thuật xây dựng

    A00

    A01

    A02

    D07-08

    1.11

    QHI

    CN6

    Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử

    A00

    A01

    A02

    D07-08

    1.12

    QHI

    CN7

    Công nghệ Hàng không vũ trụ*

    A00

    A01

    D07

    1.13

    QHI

    CN8

    Khoa học Máy tính**

    CTĐT CLC TT23

    A00

    Toán , Lý

    A01

    Toán , Anh

    A02

    Toán, Lý

    D07-08

    Toán, Anh

    1.14

    QHI

    CN9

    Công nghệ kỹ thuật điện tử - viễn thông**

    CTĐT CLC TT23

    A00

    Toán, Lý

    A01

    Toán, Anh

    A02

    Toán, Lý

    D07-08

    Toán, Anh

    2. Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

    2.15

    QHT

    7460101

    Toán học

    A00

    A01

    D07

    D08

    2.16

    QHT

    7460117

    Toán tin

    A00

    A01

    D07

    D08

    2.17

    QHT

    7480105

    Máy tính và khoa học thông tin

    A00

    A01

    D07

    D08

    2.18

    QHT

    7480105 CLC

    Máy tính và khoa học thông tin**

    CTĐT CLC TT23

    A00

    A01

    D07

    D08

    2.19

    QHT

    7440102

    Vật lí học

    A00

    A01

    B00

    C01

    2.20

    QHT

    7440122

    Khoa học vật liệu

    A00

    A01

    B00

    C01

    2.21

    QHT

    7510407

    Công nghệ kỹ thuật hạt nhân

    A00

    A01

    B00

    C01

    2.22

    QHT

    7440112

    Hoá học

    A00

    B00

    D07

    2.23

    QHT

    7440112 TT

    Hoá học**

    CTĐT tiên tiến

    A00

    B00

    D07

    2.24

    QHT

    7510401

    Công nghệ kỹ thuật hoá học

    A00

    B00

    D07

    2.25

    QHT

    7510401 CLC

    Công nghệ kỹ thuật hoá học**

    CTĐT CLC TT23

    A00

    B00

    D07

    2.26

    QHT

    7720203

    CLC

    Hoá dược**

    CTĐT CLC TT23

    A00

    B00

    D07

    2.27

    QHT

    7440217

    Địa lí tự nhiên

    A00

    A01

    B00

    D10

    2.28

    QHT

    7440231

    Khoa học thông tin địa không gian

    A00

    A01

    B00

    D10

    2.29

    QHT

    7850103

    Quản lý đất đai

    A00

    A01

    B00

    D10

    2.30

    QHT

    7420101

    Sinh học

    A00

    B00

    A02

    D08

    2.31

    QHT

    7420201

    Công nghệ sinh học

    A00

    B00

    A02

    D08

    2.32

    QHT

    7420201

    CLC

    Công nghệ sinh học**

    CTĐT CLC TT23

    A00

    B00

    A02

    D08

    2.33

    QHT

    7440301

    Khoa học môi trường

    A00

    A01

    B00

    D07

    2.34

    QHT

    7440301 TT

    Khoa học môi trường** CTĐT tiên tiến

    A00

    A01

    B00

    D07

    2.35

    QHT

    7510406

    Công nghệ kỹ thuật môi trường

    A00

    A01

    B00

    D07

    2.36

    QHT

    QHTN01

    Khí tượng và khí hậu học

    A00

    A01

    B00

    D07

    2.37

    QHT

    Hải dương học

    A00

    A01

    B00

    D07

    2.38

    QHT

    QHTN02

    Địa chất học

    A00

    A01

    D07

    A16

    2.39

    QHT

    Kỹ thuật địa chất

    A00

    A01

    D07

    A16

    2.40

    QHT

    Quản lý tài nguyên và môi trường

    A00

    A01

    D07

    A16

    3. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

    3.41

    QHX

    7320101

    Báo chí

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.42

    QHX

    7310201

    Chính trị học

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.43

    QHX

    7760101

    Công tác xã hội

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.44

    QHX

    7310608

    Đông phương học

    -

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.45

    QHX

    7220104

    Hán Nôm

    -

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.46

    QHX

    7340401

    Khoa học quản lí

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.47

    QHX

    7229010

    Lịch sử

    -

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.48

    QHX

    7320303

    Lưu trữ học

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.49

    QHX

    7229020

    Ngôn ngữ học

    -

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.50

    QHX

    7310302

    Nhân học

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.51

    QHX

    7320108

    Quan hệ công chúng

    -

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.52

    QHX

    7320205

    Quản lý thông tin

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.53

    QHX

    7810103

    Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành

    -

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.54

    QHX

    7810201

    Quản trị khách sạn

    -

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.55

    QHX

    7340406

    Quản trị văn phòng

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.56

    QHX

    7310601

    Quốc tế học

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.57

    QHX

    7310401

    Tâm lí học

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.58

    QHX

    7320201

    Thông tin - thư viện

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.59

    QHX

    7229009

    Tôn giáo học

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.60

    QHX

    7229001

    Triết học

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.61

    QHX

    7229030

    Văn học

    -

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.62

    QHX

    7310630

    Việt Nam học

    -

    C00

    D01-06

    D78-83

    3.63

    QHX

    7310301

    Xã hội học

    A00

    C00

    D01-06

    D78-83

    4. Trường Đại học Ngoại ngữ

    4.64

    QHF

    7220201

    Ngôn ngữ Anh

    D01

    Tiếng Anh

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.65

    QHF

    7140231

    Sư phạm tiếng Anh

    D01

    Tiếng Anh

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.66

    QHF

    7220202

    Ngôn ngữ Nga

    D01

    Tiếng Anh

    D02

    Tiếng Nga

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.67

    QHF

    7140232

    Sư phạm tiếng Nga

    D01

    Tiếng Anh

    D02

    Tiếng Nga

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.68

    QHF

    7220203

    Ngôn ngữ Pháp

    D01

    Tiếng Anh

    D03

    Tiếng Pháp

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.69

    QHF

    7140233

    Sư phạm tiếng Pháp

    D01

    Tiếng Anh

    D03

    Tiếng Pháp

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.70

    QHF

    7220204

    Ngôn ngữ Trung Quốc

    D01

    Tiếng Anh

    D04

    Tiếng Trung

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.71

    QHF

    7140234

    Sư phạm tiếng Trung Quốc

    D01

    Tiếng Anh

    D04

    Tiếng Trung

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.72

    QHF

    7220205

    Ngôn ngữ Đức

    D01

    Tiếng Anh

    D05

    Tiếng Đức

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.73

    QHF

    7140235

    Sư phạm tiếng Đức

    D01

    Tiếng Anh

    D05

    Tiếng Đức

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.74

    QHF

    7220209

    Ngôn ngữ Nhật

    D01

    Tiếng Anh

    D06

    Tiếng Nhật

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.75

    QHF

    7140236

    Sư phạm tiếng Nhật

    D01

    Tiếng Anh

    D06

    Tiếng Nhật

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.76

    QHF

    7220210

    Ngôn ngữ Hàn Quốc

    D01

    Tiếng Anh

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.77

    QHF

    7140237

    Sư phạm tiếng Hàn Quốc

    D01

    Tiếng Anh

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.78

    QHF

    7220211

    Ngôn ngữ Ả Rập

    D01

    Tiếng Anh

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.79

    QHF

    7220204 CLC

    Ngôn ngữ Trung Quốc**

    CTĐT CLC TT23

    D01

    Tiếng Anh

    D04

    Tiếng Trung

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.80

    QHF

    7220209 CLC

    Ngôn ngữ Nhật**

    CTĐT CLC TT23

    D01

    Tiếng Anh

    D06

    Tiếng Nhật

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    4.81

    QHF

    7220210 CLC

    Ngôn ngữ Hàn Quốc

    CTĐT CLC TT23

    D01

    Tiếng Anh

    D78

    Tiếng Anh

    D90

    Tiếng Anh

    5. Trường Đại học Kinh tế

    5.82

    QHE

    7310101

    Kinh tế

    A01

    D01

    A00

    C04

    5.83

    QHE

    7310105

    Kinh tế phát triển

    A01

    D01

    A00

    C04

    5.84

    QHE

    7310106

    Kinh tế quốc tế**

    CTĐT CLC TT23

    A01

    tiếng Anh

    D01

    tiếng Anh

    D09

    tiếng Anh

    D10

    tiếng Anh

    5.85

    QHE

    7340101

    Quản trị kinh doanh**

    CTĐT CLC TT23

    A01

    tiếng Anh

    D01

    tiếng Anh

    D09

    tiếng Anh

    D10

    tiếng Anh

    5.86

    QHE

    7340201

    Tài chính - Ngân hàng**

    CTĐT CLC TT23

    A01

    tiếng Anh

    D01

    tiếng Anh

    D09

    tiếng Anh

    D10

    tiếng Anh

    5.87

    QHE

    7340301

    Kế toán**

    CTĐT CLC TT23

    A01

    tiếng Anh

    D01

    tiếng Anh

    D09

    tiếng Anh

    D10

    tiếng Anh

    6. Trường Đại học Giáo dục

    6.88

    QHS

    7140209

    Sư phạm Toán

    A00

    A16

    B00

    D90

    6.89

    QHS

    7140211

    Sư phạm Vật lý

    A00

    A16

    B00

    D90

    6.90

    QHS

    7140212

    Sư phạm Hóa học

    A00

    A16

    B00

    D90

    6.91

    QHS

    7140213

    Sư phạm Sinh học

    A00

    A16

    B00

    D90

    6.92

    QHS

    7140217

    Sư phạm Ngữ văn

    C00

    D01

    D78

    6.93

    QHS

    7140218

    Sư phạm Lịch sử

    C00

    D01

    D78

    6.94

    QHS

    Thí điểm

    Quản trị trường học*

    A00

    C00

    C15

    D01

    7. Khoa Luật

    7.95

    QHL

    7380101

    Luật học

    C00

    A00

    D01, D03

    D78, D82

    7.96

    QHL

    7380101 CLC

    Luật học**

    CLC CLC TT23

    A01

    D01

    D07

    D78

    7.97

    QHL

    7380109

    Luật Kinh doanh

    A00

    A01

    D01,D03

    D78, D82

    8. Khoa Y Dược

    8.98

    QHY

    7720101

    Y khoa

    B00

    8.99

    QHY

    7720401

    Dược học

    A00

    8.100

    QHY

    7720601

    CLC

    Răng hàm mặt**

    B00; tiếng Anh điều kiện

    9. Khoa Quốc tế

    9.101

    QHQ

    7340120

    Kinh doanh quốc tế**

    (đào tạo bằng tiếng Anh)

    A00

    A01

    D01-06

    D96-DD1

    9.102

    QHQ

    7340303

    (Thí điểm)

    Kế toán, Phân tích và Kiểm toán**

    (đào tạo bằng tiếng Anh)

    A00

    A01

    D01-06

    D96-DD1

    9.103

    QHQ

    7340405

    Hệ thống thông tin quản lý** ((đào tạo bằng tiếng Anh)

    A00

    A01

    D01-06

    D96-DD1

    9.104

    QHQ

    7480109

    (Thí điểm)

    Tin học và kĩ thuật máy tính **(CT LKĐTQT do ĐHQGHN cấp bằng)

    A00

    A01

    D01-06

    D90-D95

    Lưu ý: 

    (-) * Chương trình đào tạo thí điểm

    (-) ** Chương trình đào tạo học phí tương ứng với chất lượng đào tạo, theo Thông tư 23/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc chương trình đào tạo đặc thù. Thí sinh tham khảo mức học phí và điều kiện phụ về tiếng Anh của từng chương trình đạo tạo quy định chi tiết đề án thành phần của Trường đại học thành viên, khoa trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

    (-) Các chương trình đào tạo có cùng mã Nhóm ngành (CN1-CN9: Trường Đại học Công nghệ, QHTN01-QHTN02: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên): Thí sinh trúng tuyển vào nhóm ngành được phân vào từng ngành đào tạo sau khi nhập học.

    (-) Tiêu chí phụ xét tuyển của từng chương trình đào tạo (nếu có) được quy định tại các đề án thành phần của Trường đại học thành viên, khoa trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.



  • Lần đầu tiên đưa môn Âm nhạc vào chương trình bậc trung học phổ thông

    Được biết, chương trình các môn học ở chương trình phổ thông mới có nhiều thay đổi so với chương trình hiện hành. Và Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết sẽ công bố dự thảo các môn học trong tháng 1/2018.

    Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam sẽ tóm lược dự thảo nội dung chương trình từng môn học để độc giả thuận tiện trong việc theo dõi. 

    Mọi thông tin độc giả muốn góp ý đối với dự thảo nội dung chương trình môn học, vui lòng gửi vào hòm thư: toasoan@giaoduc.net.vn.
     

    Theo Ban Phát triển các chương trình môn học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), lần đầu tiên chương trình môn Âm nhạc sẽ được dạy ở cấp trung học phổ thông.

    Theo đó, chương trình được hoàn thiện về nội dung dạy học khi lần đầu tiên nội dung nhạc cụ và hợp xướng được đưa vào chương trình.

    Chương trình vừa có nội dung tích hợp (lý thuyết âm nhạc), vừa có nội dung phân hóa (nhạc cụ); vừa là môn học bắt buộc (từ lớp 1 đến lớp 9), vừa là môn học lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12).

    Chương trình có hướng mở, để tác giả sách giáo khoa và giáo viên vận dụng linh hoạt, tránh quá tải.

    Chương trình tập trung phát triển năng lực thẩm mỹ và năng lực âm nhạc, với 4 thành phần: thể hiện âm nhạc, cảm thụ âm nhạc, phân tích và đánh giá âm nhạc, sáng tạo và ứng dụng âm nhạc.

    Môn Âm nhạc lần đầu tiên được đưa vào chương trình bậc trung học phổ thông (Ảnh minh họa: Báo Vietnamnet)

    Chương trình có những đổi mới về phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, ví dụ đọc nhạc theo ký hiệu bàn tay, bộ gõ cơ thể, hát bè,...

    Chương trình có điều chỉnh tên một vài nội dung, ví dụ: hát, đọc nhạc, thưởng thức âm nhạc, câu chuyện âm nhạc,...

    Được biết, hát là một nội dung phổ biến và xuyên suốt chương trình môn Âm nhạc, gồm: bài hát tuổi học sinh, dân ca Việt Nam, bài hát nước ngoài, hợp xướng. Nội dung hợp xướng chỉ được học ở trường trung học phổ thông.

    Nhạc cụ là nội dung mang tính phân hóa, gồm: chơi tiết tấu (từ lớp 1), chơi giai điệu (từ lớp 4), chơi hòa âm (từ lớp 6).

    Học sinh học chương trình mới sẽ phải học bao nhiêu môn?

    Tùy theo điều kiện thực tiễn của nhà trường (phương tiện dạy học, năng lực giảng dạy), giáo viên có thể dạy học sinh chơi bộ gõ cơ thể, nhạc cụ tự làm, nhạc cụ Việt Nam (trống nhỏ, song loan, thanh phách, sáo trúc, tiêu, đàn nguyệt, nhạc cụ phổ biến ở địa phương,...) hoặc nhạc cụ nước ngoài (melodica, recorder, ukulele, harmonica, guitar, keyboard,...).

    Nghe nhạc là một hoạt động phổ biến trong giáo dục âm nhạc, gồm nghe nhạc không lời và nghe nhạc có lời. Nội dung và yêu cầu cần đạt về nghe nhạc được tích hợp trong tất cả các phân môn, đặc biệt là ở phần học về tác giả và tác phẩm.

    Đọc nhạc gồm các nội dung: đọc mẫu âm đơn giản ở giọng Đô trưởng theo ký hiệu bàn tay (từ lớp 1), đọc giai điệu ở giọng Đô trưởng theo ký hiệu ghi nhạc (từ lớp 4), đọc giai điệu ở giọng Đô trưởng hoặc La thứ (từ lớp 6),...

    Tuy nhiên, theo Ban phát triển chương trình môn học, các trường trung học phổ thông hiện nay chưa có giáo viên âm nhạc và ở bậc trung học phổ thông, Âm nhạc là môn lựa chọn, không bắt buộc tất cả học sinh học, do đó, không nhất thiết tất cả các trường phải có ngay và có đủ giáo viên Âm nhạc.

    Các trường cũng có thể mời giảng viên trường nghệ thuật, mời nghệ nhân hoặc giáo viên Âm nhạc ở trung học cơ sở giảng dạy một số nội dung phù hợp.

    Các Sở Giáo dục và Đào tạo nên chọn một số trường trung học phổ thông để thí điểm việc triển khai giảng dạy Âm nhạc trước khi nhân rộng.